Phương pháp thiền tại trường thiền Pa-Auk (Song ngữ Việt - Anh)

SƠ LƯỢC VỀ THIỀN SAMATHA & VIPASSANA TẠI TRƯỜNG THIỀN PA-AUK
Samatha and Vipassanā are the meditation methods introduced in the system of Pāli doctrines that the Buddha and His Noble disciples propagated in many Scriptures and which were explained in detail by Venerable Buddhaghosa in The Path of Purification (Visuddhi Magga).
Samatha (thiền chỉ)Vipassanā (thiền minh sát) là các phương pháp thiền được giới thiệu trong hệ thống giáo lý Pali, do Đức Phật và những tôn giả của Ngài truyền lại qua các kinh điển và đã được giải thích chi tiết bởi Tỳ Khưu Buddhaghosa trong “Con đường tịnh hóa” (Thanh Tịnh Đạo; Visuddhi Magga).
Samatha or Samatha Bhāvanā is the method of tranquility meditation to develop the Right Concentration  (Sammā Samādhi) leading to the one-pointed mind called “the concentraion” (Samādhi).

Samatha hay Samatha Bhāvanā là phương pháp thiền tĩnh lặng (an chỉ) để phát triển chánh định (Sammà Samàdhi) nhằm đạt được nhất tâm gọi là Định (Samàdhi).
or Vipassanā Bhāvanā is the method of “insight meditation” to develop the wisdom (Paññā) to cut off defilements to go to the Noble Path leading to a calm and peaceful state, Nibbāna.
Hay Vipassanā Bhāvanā là phương pháp “thiền minh sát” để phát triển Tuệ (Paññā) nhằm đoạn các triền cái và bước lên đạo lộ cao quý dẫn dắt tới miền an lạc gọi là Niết Bàn (Nibbāna).
The Buddha always advised his disciples to practice step by step and to accomplish three Trainings: Morality (Sīla), Concentration (Samādhi), and Insight (Paññā).
Đức Phật luôn luôn khuyên đệ tử của Ngài thực tập tuần tự từng bước để thành tựu 3 giáo huấn: Giới (Sīla), Định (Samādhi), Tuệ (Paññā).
This is the process leading to the ultimate purpose -  to liberate from suffering and defilements – to attain Nibbāna.
Đây là  tiến trình đưa tới chỗ cứu cánh – giải thoát khỏi khổ não và uế trược – để thành tựu Niết Bàn.
Thus, before meditation practice we should undertake the morality. After achieving the morality practice, we can go to Samatha Meditation leading to the Tranquility (Samādhi)and next practice the Insight meditation (Vipassanā). In this way we fulfill the three Trainings: Morality (Sīla), Concentration (Samādhi), and Insight (Paññā). One by one, they follow each other.
Cho nên trước khi thực hành thiền, chúng ta cần phải giữ giới. Sau khi đã thành tựu thực hành về giới, chúng ta có thể chuyển tiếp hành thiền Samatha để đạt được Định (Samādhi) và kế đó là thực hành  Minh Sát Tuệ (Vipassanā). Với cách thức này chúng ta thực hành trọn vẹn 3 giáo huấn: Giới (Sīla), Định (Samādhi), Tuệ (Paññā). Lần lượt, đề mục này nối tiếp đề mục kia.
The non-doing of any evil,
The performance of what’s skillful,
The cleansing of one’s own mind;
This is the teaching of the Awakened. (Dhm. 183)
Không làm điều tà hạnh,
Thiện xảo của pháp hành,
Thanh lọc tự bản tâm;
Lời dạy của bậc Giác. (Dhm. 183)
“The non-doing of any evil” means to keep the morality which is the wish to avoid evil actions. Such a practice will lead to the lack of regret which is the special and good merit of morality.
“Không làm điều tà hạnh” có nghĩa phải  giữ giới luật, chính là mong để tránh được các hành động bất thiện. Nếu thực hành được như vậy sẽ làm đoạn đi sự luyến ái, đó là phẩm hạnh của giới.
“The performance of what’s skillful” means we fulfill the tranquility practice. This is the second stage to lead to the good concentration which allows us to attain the supernatural powers and build the firm foundation for the insight practice.
“Thiện xảo của pháp hành” có nghĩa chúng ta phải thực hành thiền định trọn vẹn. Đây là bước thứ hai để dẫn tới chánh định, nó cho phép chúng ta thành tựu những năng lực siêu nhiên và làm nền tảng vững chắc cho việc thực hành nội quán.
“The cleansing of one’s own mind” means the practice leading to the good insight which brings the calm mind which cannot be shaken by pleasant or unpleasant things
“Thanh lọc tự bản tâm” có nghĩa việc thực hành làm cho nội tại cải hóa để đạt được tâm thanh tịnh. Khi đó sẽ không bị tác động bởi những việc làm cho dễ chịu hoặc khó chịu.
As a single slab of rock
Won’t budge in the wind
So the wise are not moved
By praise, By blame. (Dhm. 81)
Cũng như một phiến đá
Gió không thể chuyển lay
Thiện trí không mảy may
Dù lời khen, lời trách. (Dhm. 81)
It is said that the process of three Training Practices means you are sharpening the wisdom sword on the concentration stone which is founded on morality. When the wisdom sword becomes sharp it can cut the defilements off at their roots.  In the scriptures “Foundation of Mindfulness” (Majjhānaima Nikaya Satipaṭṭhāna Sutta; Dīgha Nikāya-Mahāsatipaṭṭhāna Sutta), the Buddha taught that “this is the direct path for the purification of beings, for the surmounting of sorrow and lamentation, for the disappearance of pain and grief, for the attainment of the true way, for the realization of Nibbāna – namely, the four foundations of mindfulness.” as follows:
Có thể cho rằng tiến trình thực hành thực hành 3 sự giáo huấn (Giới, Định, Tuệ) giống việc xem mình là một lưỡi gươm trí tuệ đang được mài trên phiến đá chánh định được đặt trên nền giới luật. Khi lưỡi gươm trở nên bén nhọn, nó có thể cắt đứt sự uế trược tận gốc ngọn. Trong kinh “Tứ Niệm Xứ” (Majjhānaima Nikaya Satipaṭṭhāna Sutta; Dīgha Nikāya-Mahāsatipaṭṭhāna Sutta), Đức Phật dạy rằng: “Đây là con đường trực tiếp để tịnh hóa tâm chúng sinh, để vượt qua sầu muộn và bi ai, để xóa tan nỗi đau và phiền não, để thành tựu chánh đạo và chứng ngộ Niết Bàn. Đó là con đường Bốn Niệm Xứ.” Như sau:
The Mindfulness of Body (Kāyānupassanāsatipaṭṭhāna)
The Mindfulness of Feelings (Vedanānupassanāsatipaṭṭhāna)
The Mindfulness of Mind (Cittānupassanāsatipaṭṭhāna)
The Mindfulness of Mental phenomena (Dhammānupassanāsatipaṭṭhāna)
Chánh niệm Thân (Kāyānupassanāsatipaṭṭhāna)
Chánh niệm Thọ (Vedanānupassanāsatipaṭṭhāna)
Chánh niệm Tâm (Cittānupassanāsatipaṭṭhāna)
Chánh niệm Pháp (Dhammānupassanāsatipaṭṭhāna)
A. Samatha Meditation  (Samatha Bhāvanā):
I. Nimitta and four kinds of material Jhānas (Rūpa Jhāna)
There are 40 Samatha meditation objects in which 30 objects lead to the “absorbtion concentration” and 10 objects lead to the “access concentration” as follows::
10 Kasina- circle
10 Asubha- repulsiveness
10 Anussati- recollection
4 Brahma Vihāra-Sublime abodes
Arūpa Jhāna- immaterial Jhāna
Āhāre-patikūla-saññā -
1 Catu-dhātu-vavatthāna- the four elements meditation
A. Thiền Samatha (Samatha Bhāvanā):
I. Nimitta và 4 loại Thiền Hữu Sắc (Rūpa Jhāna)

Có 40 đề mục thiền Samatha. Trong đó 30 đề mục dẫn tới “an định” và 10 đề mục dẫn tới “cận định” như sau:
10 đề mục hình tròn (Kasina)
10 đề mục kinh tởm (Asubha)
10 đề mục tùy niệm (Anussati)
4 đề mục phạm trú (Brahma Vihāra)
4 đề mục thiền vô sắc (Arūpa Jhāna)
1 đề mục tưởng vật thực bất tịnh (Āhāre-patikūla-saññā)
1 đề mục phân tích tứ đại (Catu-dhātu-vavatthāna)
The meditation methods at Pa Auk start from the mindfulness of body or from Ānāpānasati, mindfulness-of-breathing. If the meditator cannot go from the mindfulness of breathing he will be instructed to practice the four elements meditation. However, mindfulness of breathing will lead to the absorption concentration (Appanā) and the four element meditation only leads to the access concentration (Upacāra).
Phương pháp thiền tại trường thiền Pa Auk bắt đầu từ việc chánh niệm thân hoặc từ chánh niệm hơi thở (Ānāpānasati). Nếu thiền sinh không thể bắt đầu bằng cách chánh niệm hơi thở, vị đó sẽ được hướng dẫn đề mục phân tích tứ đại. Tuy nhiên, chánh niệm hơi thở sẽ dẫn tới an chỉ định (Appanā)  còn phân tích tứ đại chỉ dẫn tới cận định (Upacāra).
The meditator who starts from mindfulness-of-breathing will focus the mind on the breath object until Nimitta (the light/sign) appears. Nimitta consists of:
Những thiền sinh bắt đầu bằng cách chánh niệm hơi thở sẽ chú tâm vào đối tượng hơi thở cho đến khi Nimitta (định tướng) xuất hiện. Nimitta bao gồm:
  • Parikamma Nimitta: Preparatory light/sign.
  • Uggaha Nimitta: Learning or taking up light/sign.
  • Paṭibhāga Nimitta: Counterpart light/sign.
  • Parikamma Nimitta: Ánh sáng (hoặc dấu hiệu) sơ tướng.
  • Uggaha Nimitta: Ánh sáng (hoặc dấu hiệu) học tướng.
  • Paṭibhāga Nimitta: Ánh sáng (hoặc dấu hiệu) tương ưng tướng.
When the mind stays continuously on the Counterpart light/sign then the meditator gradually removes the five hindrances: sensuous desire (Kāmacchanda), Ill will (Vyāpāda), sloth and torpor (Thīna-middha), restlessness and remorse (Uddhacca-kukkucca) sceptical doubt (Vicikicchā). At the time when the meditator can discern the five Jhāna factors (Jhānaṅga) on the Bhavanga (the mind door), such as: applied thought (Vitakka), sustained thought (Vicāra), joy/bliss (Pīti), happiness (Sukha), one pointedness (Ekaggatā). “Having abandoned these five hindrances, imperfections of the mind that weaken wisdom, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, he enters upon and abides in the first Jhāna, which is accompanied by applied and sustained thought, with rapture and pleasure born of seclusion”.
Khi tâm an trụ nhiệt thành trên quang tương ưng tướng thì thiền giả dần dần diệt trừ được 5 triền cái: tham dục (Kāmacchanda), sân (Vyāpāda), hôn trầm thụy miên (Thīna-middha), phóng dật (Uddhacca-kukkucca) và hoài nghi (Vicikicchā). Khi ấy thiền giả có thể nhận ra 5 yếu tố của thiền na trên hữu phần (Bhavanga –cánh cửa tâm hay luồng hộ kiếp), bao gồm: tầm (Vitakka), tứ (Vicāra), hỷ (Pīti), lạc (Sukha), nhất tâm (Ekaggatā).  “Sau khi loại trừ được 5 triền cái, các món không hoàn thiện của tâm làm cho tuệ suy kém, hoàn toàn viễn ly các tham dục, đoạn trừ các trạng thái bất thiện. Vị ấy tiến tới và trú vào Sơ thiền, một trạng thái gồm có tầm và tứ, cùng với hỷ và lạc sinh ra từ sự viễn ly ấy.”
Removing applied thought and sustained thought, the meditator discerns three Jhāna factors which include joy/bliss, happiness and one pointedness and will enter the second Jhāna state. “With the stilling of applied and sustained thought, he enters upon and abides in the second Jhāna, which has self-confidence and singleness of mind without applied and sustained thought, with rapture and pleasure born of concentration.
Rời bỏ trạng thái tầm và tứ, thiền giả sẽ nhận diện được 3 yếu tố thiền na bao gồm hỷ, lạc và nhất tâm và sẽ nhập vào Nhị thiền. “Với sự tịch bặt của tầm và tứ, vị ấy tiến tới và trú vào Nhị thiền, một trạng thái tâm tự tại và đơn lập không có tầm và tứ, với hỷ và lạc phát sinh từ trạng thái định.”
The meditator will enter the third Jhāna state after removing joy/bliss and discern happiness and one pointedness. “With the fading away as well of rapture, he abides in equanimity, and mindful and fully aware, still feeling pleasure with the body, he enters upon and abides in the third Jhāna, on account of which noble one announces: ‘He has a pleasant abiding who has equanimity and is mindful’.
Vị ấy sẽ nhập vào tam thiền sau khi rời bỏ hỷ và nhận thức được lạc và nhất tâm. “Với lắng dần của hỉ lạc, vị ấy an trú vào xả, chánh niệm và hoàn toàn tỉnh giác, vẫn còn cảm lạc trên thân, vị ấy tiến tới và trú vào Tam thiền, với sự kiện này, thánh gỉả nói rằng: “Vị ấy có một trú xứ an lạc, xả và chánh niệm.”
On continuing removing happiness, the meditator will enter the fourth Jhāna state when he discerns the two Jhāna factors; Equanimity (Upekkhā)and One pointedness on the Bhavaºga (the mind door). “With the abandoning of pleasure and pain, and with the previous disappearance of joy and grief, he enters upon and abides in the fourth Jhāna, which has neither-pain-nor-pleasure and purity of mindfulness due to equanimity.1
Tiếp tục rời bỏ lạc, thiền giả sẽ nhập vào trạng thái Tứ thiền khi vị ấy nhận thức 2 yếu tố thiền: xả (Upekkhā) và nhất tâm trên hữu phần. “Với việc lìa bỏ an lạc và đau khổ, và với sự biến mất của hỷ và  sầu, vị ấy tiến tới và trú vào Tứ thiền. Trạng thái này không khổ cũng không lạc, đạt được thanh tĩnh của chánh niệm nhờ vào xả.”
II.  Thirty two parts of the body (Koṭṭhāsa)
Then the meditator will use the light of the four Jhāna states to practice the 32 parts of the body.
  • 20 parts of the body in the earth element (Paṭhavī):
1. Hair (Kesā)   11. Heart (Hadayaṃ)
2. Body Hair (Lomā)  12. Liver (Yakanaṃ)
3. Nails (Nakhā)   13. Membranes (Kilomakaṃ)
4. Teeth (Dantā)   14. Spleen (Pihakaṃ)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét