Sư ông Thích Thông Lạc nêu ra những giả dối của pháp Đại Thừa



 Ngày nay không còn ngăn sông cách núi và không “đói” thông tin như ngày xưa nữa. Cho nên, mọi thứ điều được rõ ràng: “Kinh Giả”, “Kinh Thật”, đừng hòng ai lấp liếm che dấu sự thật. Nào, những Phật tử với ít bụi trong mắt, đã lỡ bị nhiễm pháp “tham cao siêu” có thể được ích lợi nếu kiên nhẫn tìm hiểu những vấn đề về cái gọi là “Đại Thừa”.  Phật Pháp Chân Thật (PPCT) xin giới thiệu bài pháp của sư ông Thích Thông Lạc (mà hầu hết các web site rất sợ đăng, vì sao???). Bản thân PPCT không liên hệ gì với sư ông và các đệ tử của sư ông. Đạo Phật là đạo của người có trí biết phán xét đúng sai chứ không phải là đạo của sự chấp nhận, tin ẩu tả những gì mà người ta áp đặt từ xưa.
PPCT có đọc qua bộ Đường Về Xứ Phật của sư Ông (đã xuất bản NXB Tôn Giáo) và  thấy có nhiều điểm sư Ông nói không sai (mặc dù  cũng có điểm PPCT bất đồng ý kiến với sư Ông trong Đường Về Xứ Phật). Tuy nhiên những gì mà sư Ông nói như “Kinh Đại Thừa là Kinh dỏm, Kinh giả, Kinh do tưởng tượng”, “mê tín dị đoan”… thì là đúng. Những bài viết liên quan sau đây có thể bổ sung quan điểm của sư Ông về Đại Thừa (nếu cần hãy đọc). Hãy nhớ rằng “những ai độc tài tư tưởng thì sẽ bị đọa lạc mãi mãi”. Xin nhắc lại: Đạo Phật là đạo của người có trí biết phán xét đúng sai chứ không phải là đạo của sự chấp nhận, tin ẩu tả những gì mà người ta áp đặt từ xưa.  

·         Nguồn gốc Kinh Đại Thừa là do các sư viết ra - Nguyễn Trung Hiếu

·         Kinh ngụy tạo (Apocrypha) - Tác giả Prof. KYOTO TOKUNO, Ph.D

·         ĐẠI-THỪA và TIỂU-THỪA phái nào cao siêu hơn ? - Thích Giác Hoàng 

·         Lịch sử kết tập Kinh luật lần thứ 1,2 và 3 (6 lần) - TT. Thích Phước Sơn

·         Lịch sử kết tập Pháp tạng lần thứ 4,5 và 6 - TT. Thích Phước Sơn 

·         Sự thật về Tam Tạng kinh điển! - Quán Như 

·         KINH KALAMA TIẾNG CHUÔNG CẢNH TỈNH THIỀN TÔNG VIỆT NAM - GS001

·         THỰC HƯ VỀ CÂU CHUYỆN NIÊM HOA VI TIẾU CỦA THIỀN TÔNG (Thư viện hoa sen)

·         Lịch sử kết tập kinh điển và truyền giáo - Tỳ Kheo Thiện Minh 

·         Một nghiên cứu cho thấy "Tiểu Thừa" chỉ là danh từ chế ra thời sau này (GS. Dominique Trotignon) 

·         Pháp môn Tịnh độ trong kinh điển Pāli

·         Khái quát về nguồn gốc Kinh A-hàm Thích Nguyên Hiền biên soạn

·         Khái quát lịch sử truyền bá kinh điển và những đặc điểm của Kinh tạng Nikàya

·          PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY VÀ PHẬT GIÁO BIẾN CẢI - Tiến sĩ Phật học Sures Chandra Banerji


Sau đây là bài Viết sưu tập và chọn lọc từ các sách của sư Ông Thích Thông Lạc (PPCT giữ nguyên văn, không sửa chữ). Xin tưởng nhớ đến Trưởng lão Thích Thông Lạc, người suốt đời phấn đấu vì sự thật đã viên tịch. 



 

PHÁP MÔN NIỆM PHẬT

Hỏi: Kính bạch Thầy, trước đây con có hành trì pháp môn NIỆM PHẬT nhưng khi biết đó là pháp ức chế tâm, con đã từ bỏ. Tuy nhiên con vẫn còn có một số thắc mắc về pháp môn này:
1- Trong kinh Thập Thượng (Trường Bộ II, trang 663) Ngài Sariputa có dạy: Sáu pháp cần phải tu tập trong đó có pháp thường niệm Phật (tùy niệm Phật).
2- Trong các kinh Tăng Chi- phần 1 pháp, phần 3 pháp v.v... đã ghi rõ niệm Phật đưa đến “nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, niết bàn”. Vị Thánh đệ tử niệm Phật được “tịnh tín, hân hoan, đoạn tận phiền não”. Vậy pháp môn Niệm Phật trong kinh Nguyên Thủy với pháp môn niệm Phật của Tịnh Độ Tông khác nhau như thế nào?
3- Một vị Thượng Tọa ở Học Viện Phật Học TP HCM có giảng: “Người niệm Phật được nhất tâm bất loạn, khi chết được vãng sanh cực lạc Tây Phương, là vị A Na Hàm hay Trung Gian Bát Niết Bàn. Vì thế ở cảnh giới này vị ấy tu tiếp Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi, Bát Chánh Đạo để thể nhập Niết Bàn”.
4- Một vị Thượng Tọa viết trong Thanh quy “Niệm Phật là chánh niệm” ?
Kính thưa Thầy các luận giải này đúng sai như thế nào?
Đáp:Pháp môn niệm Phật trong kinh Nguyên Thủy và pháp môn niệm Phật trong kinh Tịnh Độ không giống nhau, vì pháp môn Tịnh Độ ức chế tâm (dùng câu niệm Phật tập trung tâm không loạn tưởng để được nhất tâm) ngược lại phápmônniệm Phật trong kinh Nguyên Thủy là tâm tâm niệm niệm qua hạnh sống của đức Phật để tâm ly dục ly ác pháp, chứ không có niệm danh hiệu Phật như trong kinh Tịnh Độ.
Kinh Nguyên Thủy dạy: không những niệm Phật mà còn niệm Pháp, niệm Tăng và niệm Giới. Thầy đã giảng trong kinh Tứ Bất Hoại Tịnh, vậy các con hãy đọc lại sẽ rõ nghĩa và cách thức tu tập.
Một vị Thượng Tọa ở Phật Học Viện TP HCM dạy: “Người niệm Phật được nhất tâm bất loạn khi chết được vãng sanh về cực lạc Tây phương”. Vị thượng tọa này chỉ giảng theo trong kinh Tịnh độ, chứ riêng bản thân vị thượng tọa cũng chẳng biết có được vãng sanh hay không?
Theo thiển nghĩ của Thầy, một nước Cực Lạc ở Tây phương là một nước thanh bình và rất vui, người dân ở đó tính tình phải hiền hậu không còn tham, sân, si, trái lại người thế gian niệm Phật được nhất tâm mà tính tình hung ác vẫn còn tâm tham, sân, si ngút ngàn, nếu được Phật A Di Đà rước về nước Cực Lạc thì nước Cực Lạc có còn Cực Lạc và thanh bình nữa không?
Các con cứ suy ngẫm, đừng để mình bị lừa đảo, đừng sống trong tưởng các con ạ! Phải sống trong thực tế, đừng mơ mộng ảo huyền, toàn thứ bánh vẽ, thật sự không ích lợi gì cho kiếp sống hiện tại của con người các con ạ!
Người giữ gìn giới luật nghiêm túc, không hề vi phạm một lỗi nhỏ nhặt nào, tâm thường ly dục ly ác pháp thì mới được nhập lưu (vào dòng Thánh), nghĩa là tâm người đó lìa được tâm tham, sân, si chứ chưa có đoạn được, nếu tâm được như vậy mới được dự vào dòng Thánh còn không được vậy mà gọi là đắc quả  A Na Hàm thì không đúng. Pháp môn tu tập ức chế tâm cho hết vọng tưởng mà chứng quả A Na Hàm thì thật là sống trong mơ, trong mộng.
Niệm Phật là Chánh niệm là một điều sai, niệm Phật chỉ mới tập tỉnh giác trong câu niệm Phật.
Tại sao quý vị lại không phân biệt được chánh niệm và tỉnh giác.
Chánh niệm là niệm thiện, còn tà niệm là niệm ác. Mười điều thiện là chánh niệm, mười điều ác là tà niệm.
Tỉnh giác là tỉnh thức, nhờ có thân hành niệm tâm tỉnh giác nơi hành động nội và ngoại của thân.
Tâm chú ý hành động niệm câu danh hiệu Phật là tâm tu tỉnh thức chứ chưa có chánh niệm, vì câu niệm Phật chẳng thiện chẳng ác thì không thể được gọi là chánh niệm vì chánh niệm của nó phải có đối tượng là tà niệm.
Ở đây chữ nghĩa còn hiểu sai thì thực hành làm sao đúng được. Do hiểu sai Thầy Tổ của chúng ta đời đời kiếp kiếp tu hành chẳng đi về đâu cả, thật uổng phí một đời người, có công tu hành, giống như dã tràng xe cát biển Đông.
Các con muốn tu theo đạo Phật thì phải nghiên cứu cho rõ ràng đừng vội vàng tin, hãy cân nhắc thận trọng như đức Phật đã dạy: “ Chớ có tin.... chớ có tin ...mà hãy tin những gì có lợi ích cho mình cho người”.

TẠO CẬN TỬ NGHIỆP THIỆN LÀ MỘT HÀNH ĐỘNG DỐI TRÁ

Hỏi:Kính thưa Thầy, đối với người già, nhất là người sắp chết, pháp môn niệm Phật dễ học tập và hành trì với ba tư lương: “TÍN, HẠNH, NGUYỆN” Một pháp sư giảng: người niệm Phật lại được trợ niệm, có thể giúp cho CẬN TỬ NGHIỆP có được sanh thú tốt hơn, ví như dù con bò yếu (niệm thiện) nhưng được đứng gần cửa chuồng sẽ được ra trước (?). Vậy nếu không dùng Pháp niệm Phật thì đối với người già, người sắp chết chúng ta giúp đỡ cho họ như thế nào để có ý nghĩa tích cực nhất?
Đáp: Cái mà gọi là “CẬN TỬ NGHIỆP” đây cũng là một trò lừa đảo của Tịnh Độ Tông, một việc làm hết sức phi đạo đức, che mắt thiên hạ. Một đời làm ác, chỉ đợi giờ phút cuối cùng dùng câu niệm Phật để tạo cận tử nghiệp tốt, để được tái sanh cảnh giới thiện ( Cực Lạc), tạo cận tử nghiệp thiện như vậy có đúng không?
Trong thời đức Phật còn tại thế, có một người tên là Vô Não, tu hành theo tà pháp của ngoại đạo. Ngoại đạo dạy ông giết người cắt lóng tay xâu làm chuỗi đúng 1000 lóng tay sẽ chứng đạo. Nghe lời dạy ấy ông giết 999 người và còn người cuối cùng ông dự định giết đó là mẹ ông.
Biết được tâm niệm bất hiếu tội lỗi này đức Phật đến đó giải cứu mẹ ông và khiến ông thức tỉnh.
Từ đó ông năng nổ tu hành theo giáo pháp của đức Phật, ông thường ngăn ác và diệt ác trong tâm ông. Một hôm ông đi khất thực người ta biết được ông là người tàn ác thường hay giết người nên người ta đã không cho cơm ăn mà còn lấy đá ném và gậy gộc đánh ông u đầu chảy máu, ông nhẫn nhục chạy đi và không thù oán kẻ đánh mình, ông nghĩ quán như lời Phật dạy: “nhân quả” Do sự quán xét này ông đã cứu mình thoát khổ và chẳng bao lâu ông chứng đạo quả A La Hán.
Sự chứng đạo giải thoát này không phải nhờ ai hộ niệm cho ông mà phải chính ông năng nổ chuyên cần tu tập ngăn ác diệt ác pháp với một tâm nhiệt huyết nồng nàn.
Con đường tu hành giải thoát của đạo Phật không thể có sự hộ niệm được mà phải chính bản thân của người đó tinh tấn siêng năng tu tập vì thế đức Phật dạy: “Chẳng phải tôi, cũng chẳng phải người nào khác có thể đi con đường ấy cho anh. Chính anh, anh phải đi cho anh”.
Như vậy rõ ràng khi còn sống mạnh khỏe không tu tập đến khi chết còn gì tu tập cho kịp nữa. Suốt một đời tu tập xả tâm ly dục ly ác pháp hết sức năng nổ còn sợ chưa làm xong, huống là sắp chết đến nơi rồi thì hộ niệm còn sức đâu đủ bình tĩnh, còn sức đâu đủ gan dạ chịu đựng những cơn nghiệp khổ đau tận cùng lúc sắp lâm chung như ai xé ruột xé gan. Hộ niệm chỉ là một hình thức suông mà các nhà phát triển tưởng giải ra để lừa đảo mọi người làm sai lệch ý nghĩa tự lực của đạo Phật.
Một đời làm ác chỉ một phút giây tỉnh giác quay đầu trở lại là giải thoát “Tu nhất kiếp ngộ nhất thời”. Lời này dạy không đúng, đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn phải sáu năm khổ hạnh, bốn mươi chín ngày tu tập hết sức mới chứng được đạo quả.
Hiểu biết Phật pháp cho đúng nghĩa cũng không phải dễ huống là tu tập còn khó gấp trăm ngàn lần, vì phải trải qua một thời gian dài sống và tu tập uốn nắn tâm mình cho đến khi thuần thục đâu phải là một việc dễ làm, một sớm một chiều làm xong được.
Bởi vậy chúng ta tu tập thì hãy tu tập cho đúng lời dạy của đức Phật chứ đừng nghe theo những lời dạy của các Tổ, do đó đức Phật cảnh giác chúng ta: “Đừng tin Thầy Tổ....đừng tin kinh sách v.v...và đừng tin v.v.......”.
Trong kinh sách Nguyên Thủy không có dạy hộ niệm, chỉ dạy cho người còn đang sống mạnh khỏe, còn người đau bệnh đức Phật đã xác định: “người có bệnh tu tập rất khó”. Đó là một điều khó tu trong năm điều khó. Trong kinh Bồ Đề Vương Tử thuộc kinh Trung Bộ: “Có năm điều khó tu tập:
1-    Không có lòng tin
2-    Bệnh tật.
3-    Gian trá, không thật
4-    Không tinh tấn bỏ các ác pháp.
5-    Không có trí tuệ về sự sanh diệt.”
Trong đời sống hằng ngày, nếu muốn  tu theo đạo Phật, có năm điều khó này khiến không tinh cần còn không giải thoát huống là giờ phút sắp chết, còn gì nữa đâu hộ niệm.
Hộ niệm là một sự cầu tha lực, ngược lại con đường tu hành của đạo Phật là phải tự lực, hộ niệm là một phương pháp tạo cận tử nghiệp thiện, đó là một sự dối trá. Dối trá là một điều vi phạm trong năm điều khó tu của đạo Phật.
Tóm lại, muốn hộ niệm cho người sắp chết, tốt nhất khi họ còn mạnh khỏe khuyên họ nên sống trong thiện pháp, nhờ sống trong thiện pháp, huân thành nghiệp thiện đến khi chết nghiệp thiện tiếp tục tái sanh được sanh vào cõi thiện, đó là một việc làm chắc chắn còn hộ niệm bất cứ một việc làm gì đều là giả dối cả.
Hộ niệm mang bản chất giả dối, chúng ta là những người tu theo đạo Phật không bao giờ chấp nhận sự giả dối đó. Chúng ta hoàn toàn chấp nhận bố thí pháp để giúp cho mọi người biết chánh pháp, biết đạo đức làm người để họ sống đúng một đời sống đạo đức nhân bản - nhân quả không làm khổ mình khổ người.
Sống không làm khổ mình khổ người thì hạnh phúc biết bao! Đến khi chết bất cứ sanh vào cõi nào chúng ta cũng đều không làm khổ mình khổ người, thì nơi đó là Thiên đàng, Cực lạc. Vì vậy chúng ta không cầu vãng sanh, không cần hộ niệm chúng ta vẫn được giải thoát. Con nên suy ngẫm lời Thầy dạy có đúng thì tin bằng không đúng thì đừng tin.

LẠT MA TÂY TẠNG CÓ PHẢI LÀ PHẬT GIÁO KHÔNG

Hỏi: Kính bạch Thầy, tại sao các vị A La Hán không tái sanh để tùy duyên hóa độ chúng sanh như các Lạt Ma Tây Tạng? Trong một số phim sách mà con được xem, ở Tây Tạng vẫn có một vài tu viện mà giới luật và sự tu tập cũng rất nghiêm túc. Kết quả là họ cũng có một số vị chủ động được cái chết và sự tái sanh, chứng tỏ sức tỉnh thức của họ cũng rất mạnh mẽ và phải chăng họ cũng làm chủ được sanh tử? Mật Tông phần lớn là bùa chú mê tín, tuy nhiên với cái nhìn của đạo Phật đánh giá các vị Lạt Ma này như thế nào?
Đáp:Cái nhìn của Phật giáo đối với các nhà sư Tây Tạng là cái nhìn huyễn hóa của những nhà ảo thuật chứ không đem lại sự lợi ích thiết thực cho đại đa số con người trên hành tinh này, tại sao vậy?
Vì những người thực hiện được như các nhà sư Tây Tạng thì quá hiếm, hằng tỷ tỷ người trên hành tinh này mà chỉ được một hai người. Cho nên những pháp này chẳng có ích lợi thiết thực gì cho con người, chỉ tạo thêm sự đau khổ cho họ vì lòng tham muốn những điều này (thần thông ký thuyết và huyễn hóa).
Giáo pháp này không xây dựng cho loài người một nền đạo đức nhân bản, vì nền đạo đức nhân bản sẽ đem lại lợi ích chung cho con người trên hành tinh này, hơn là những bùa chú thuật tạo ra những trò huyễn ảo tái sanh luân hồi, biết tiền kiếp.
Biết tiền kiếp như các nhà sư Tây Tạng có ích lợi gì cho ai, ngay cả bản thân của họ hay chỉ là một trò lừa đảo người để phổ cập giáo pháp Mật Tông khắp toàn cầu
Đạo Phật không làm điều đó, vì đức Phật và các vị A La Hán đệ tử của Ngài có thừa khả năng, làm việc đó, mà không cần đến bùa chú thuật như các nhà sư Tây Tạng.
Đạo Phật lấy đạo đức nhân bản nhân quả xây dựng cho con người có một đời sống Thánh thiện, tạo cảnh sống thế gian thành cảnh giới Thiên Đàng, Cực Lạc, Niết Bàn, chứ không mơ mộng theo lối mòn của các tôn giáo khác xây dựng một cảnh giới hư ảo dù bất cứ nơi đâu.
Đạo Phật sống thực tế, tu tập trong thực tế, không sống trong hư ảo, tu tập trong hư ảo, chấp nhận những gì có ích lợi cho mình cho người, không chấp nhận những gì có hại cho mình cho người, không chấp nhận những trò hư ảo huyễn giả hý luận.
Những trò huyễn ảo của các nhà sư Tây Tạng để khoe khoang sự tái sanh luân hồi, biết tiền kiếp của mình khiến cho thiên hạ phục lăn, nhưng các con xét thấy có ích lợi gì không ?
Vì không ích lợi cho nên Thầy trò đức Phật không thấy có ai làm điều này. Trong kinh sách nói về tiền thân đức Phật là người sau bịa đặt chứ đức Phật đã dạy: “Nếu Ta nói một điều mà người khác không thấy, không nghe, không biết thì có nói láo trong Ta”. Lời dạy này chứng tỏ đức Phật không bao giờ nói về tiền kiếp của mình. Nói về tiền kiếp tức là dùng thần thông ký thuyết, mà thần thông ký thuyết là một trò huyễn ảo, mà đạo Phật không bao giờ chấp nhận, mà không chấp nhận tức là có nghĩa lý gian xảo lừa đảo trong đó.
Các vị Lạt Ma đứng trong góc độ năng lực làm chủ sự sống chết thì có, nhưng đứng trong góc độ lìa tham đoạn ác pháp thì chưa, vì vậy còn thực hiện những trò ảo thuật lừa đảo không ích lợi thiết thực cho con người.
Có người bảo rằng nhờ thực hiện những thần thông này là tạo duyên để độ chúng sanh. Điều này sai, bởi vì thực hiện thần thông là tạo cho tâm người ta  không hướng đến chánh đạo, vì chánh đạo là phải gợi tâm người hướng về chánh đạo, chứ đã gợi người ta về tà đạo làm sao lôi người ta về chánh đạo được.
Cũng như hệ phái Phật giáo lấy sự mê tín của dân gian gợi ý cho người ta theo đạo mình, từ đó người ta theo kinh sách phát triển là theo sự mê tín chứ không còn biết kinh sách phát triển có đúng của Phật giáo hay không? 
Người ta tu theo Mật Tông Tây Tạng là người ta ham thích thần thông chứ người ta đâu biết đạo lý làm người là như thế nào để mọi người sống được an vui giải thoát.
Người ta tu theo đạo Phật vì đạo đức của đạo Phật là một nền đạo đức nhân bản – nhân quả làm người thường đem lại lợi ích cho mình cho người nên không còn làm khổ đau cho nhau nữa, chứ không phải người ta tu theo đạo Phật để được chư Phật gia hộ tai qua nạn khỏi bệnh tật tiêu trừ; người ta tu theo đạo Phật không phải để ngồi thiền thấy tánh thành Phật, hay được vãng sanh về cõi Cực Lạc, Niết Bàn v.v...
Từ ban đầu tu sai thì cuối cùng vẫn là tu sai và khi đã tu sai thì rất là khó sửa.
Những tôn giáo muốn đem lại lợi ích cho loài người thì không có pháp môn nào tuyệt vời bằng pháp môn dạy đạo đức làm người. Làm người không nên làm khổ mình, khổ người, đó là thiện pháp mà thiện pháp tới đâu thì ác pháp sẽ bị triệt tiêu đến đó. Có được như vậy con người mới tìm được chân hạnh phúc, và như vậy mới thật sự ích lợi cho loài người. Còn tất cả các phương pháp khác dù là phương pháp dưỡng sinh Yoga dạy người để trị bệnh thì đó chỉ là trị về nhánh lá của bệnh chứ không phải trị tại gốc bệnh, gốc sanh muôn thứ bệnh khổ là ác pháp, muốn trị muôn thứ bệnh khổ mà cứ trị bằng thuốc thang và phương pháp dưỡng sinh thì không thể trị tận gốc bệnh được, vì thế trị giảm được bệnh này thì sanh ra bệnh khác.
Theo Phật giáo muốn trị bệnh khổ tận gốc của con người thì phải sống có đạo đức nhân bản - nhân quả không làm khổ mình, khổ người. Không làm khổ mình khổ người thì cơ thể phải vận động được đều hòa, tâm hồn phải sống an lạc, thanh thản và vô sự. Và tất cả các chướng ngại pháp không tác động đến thân tâm, nếu có đến họ đều có đủ khả năng đẩy lui và diệt trừ tận gốc bệnh. Do sống trong thiện pháp nên người tu sĩ đạo Phật có được một tâm hồn thanh tịnh. Tâm hồn thanh tịnh là một tâm hồn trong sạch. Một tâm hồn trong sạch thì lại có một năng lực mầu nhiệm nó hoàn toàn làm chủ được mọi bệnh tật khổ đau và sự sống chết.
Đạo Phật làm chủ được sự sống chết là nhờ năng lực của tâm thanh tịnh, chứ không phải nhờ vào năng lực bùa chú thuật của Mật Tông.
Mật Tông sống có giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh nhưng không vì giữ những giới luật ly dục ly ác pháp, mà Mật Tông giữ gìn giới luật là để luyện bùa luyện chú tạo một năng lực siêu việt, nhờ năng lực đó mới thu hút người theo đạo mình tu để có danh to. Và vì thế các Ngài thể hiện thần thông  trị bệnh và nói biết chuyện quá khứ trong một kiếp hoặc hai ba kiếp.
Trong câu hỏi của con: “Tại sao các vị A La Hán không tái sanh để tùy duyên hóa độ chúng sanh như các Lạt Ma Tây Tạng?”. Đức Phật đã dạy: “Một vị A La Hán xuất hiện ở trên đời là một việc khó, khó như hoa ưu đàm cả ngàn năm mới trổ hoa một lần” .
Vả lại khi một vị A La Hán xuất hiện ở đời là phải vào đúng thời kỳ của nó, có nghĩa một vị A La Hán ra đời là quân bình trật tự đạo đức của loài người, lúc xã hội loài người đang đi vào một sự thay đổi lớn, nếu không quân bình kịp thời thì sự thay đổi ấy sẽ đưa con người vào trong đêm đen tối.
Một bậc A la Hán xuất hiện ở đời là làm chấn động và rung chuyển cả trời đất cũng như khi đức Phật xuất hiện ra đời dựng lại những gì mà lục sư ngoại đạo thời đó đã ném bỏ và bác sạch sáu mươi hai luận thuyết của kinh Vệ Đà mà người thời bấy giờ được xem bộ Thánh kinh này là một triết thuyết tuyệt vời, là một bộ chân lý văn minh của loài người, thế mà đạo Phật ra đời không chấp nhận nó.
Và như thế không thể so sánh một vị Lạt Ma với một vị A La Hán được. Vị Lạt Ma dùng thần thông huyễn hóa mà lừa đảo người gọi là độ chúng sanh, chứ chẳng có ích lợi thiết thực gì cho con người, còn một vị A La Hán xuất hiện ở đời là đem lại sự lợi ích lớn cho loài người tức là mang lại cho con người một nền đạo đức nhân bản – nhân quả mà mọi người sống chung nhau nhưng không làm khổ mình khổ người.
Các con có tin điều này không? Các con cứ nhìn các vị Lạt Ma thì thấy rõ lời Thầy dạy. Lẽ ra các ông có thần thông thì phải có đạo đức. Sao các ông không đem lại cho con người một nền đạo đức? Quảng bá một nền đạo đức. Nền đạo đức của các ông là gì? Các ông chỉ gây tạo sự ham mê ngu muội của con người bằng những thần thông tái sanh luân hồi qua những quảng cáo phim ảnh sách báo.
Những sự thể hiện tái sanh luân hồi của các ông như vậy có ích lợi gì cho ai? Chỉ tạo ra một trò hiếu kỳ của con người, trong khi con người đang cần có một nền đạo đức để sống với nhau mà không làm tổn thương cho nhau, biết thương yêu nhau, biết tha thứ những lỗi lầm của nhau. Còn các ông ăn không ngồi rồi để tu tập thần thông tưởng, như vậy phải tiêu phí bao nhiêu mồ hôi nước mắt của mọi người nuôi dưỡng các ông.
Con nên đọc lại bài kinh Channa đức Phật đã dám so sánh mũi dao của tỳ kheo Channa và sự tịnh chỉ hơi thở của Tứ Thiền thì sự làm chủ sống chết là một trò huyễn hóa làm mê mệt những con người còn sống trong giấc mơ.
Nếu đứng trong góc độ của Phật giáo thì các ông Lạt Ma là những người phù thủy.
Sự quảng cáo phim ảnh, báo chí và sách vở, không đủ chứng minh lòng tham danh đắm lợi của các vị phù thủy Lạt Ma  này sao?
Trong cuốc sống trên thế gian này con người đang cần đạo đức, chứ không phải cần thần thông xin quý vị hiểu cho. Đạo đức - món ăn tinh thần, loài người đang cần thiết như người đói cần thực phẩm. Xin các vị Lạt Ma hãy cho chúng tôi những món ăn tinh thần này chứ thần thông của các ông chỉ là một trò ảo thuật mà thôi.

NHỮNG TRÒ MÊ TÍN LỪA ĐẢO TRONG CÁC CHÙA

Hỏi: Trung tâm thành phố Hà Nội có một ngôi chùa, ở phố Bà Triệu, tại đây đã thực hiện di dân hai lần, tổng chi phí lên tới vài chục tỷ đồng, để cho nhà chùa được rộng rãi khang trang và riêng biệt
Quý sư ni ở đây hành đạo bằng pháp tụng kinh, gõ mõ, dâng sao, giải hạn... và đặc biệt vào khóa lễ đầu năm có làm một chiếc thuyền Bát Nhã bằng giấy để chở vong linh người chết về Tây phương, Niết Bàn.....
Vậy những việc làm trên của các sư ni có đem lại lợi ích gì cho Phật pháp, cho các sư ni và cho chúng sanh không ạ? Con xin Thầy từ bi dạy bảo cho chúng con được rõ, đâu là việc làm đúng chánh pháp, đâu là việc làm sai không đúng chánh pháp để cho những người hiện thời và con cháu mai sau không còn lầm lạc.....
Đáp:Tụng kinh, gõ mõ, dâng sao, giải hạn, làm thuyền bát nhã bằng giấy để chở các vong linh về Tây phương, Niết Bàn v.v....đó là những việc làm mê tín lừa đảo những tín đồ nhẹ dạ vì thương cha mẹ và những người thân nên bỏ tiền ra cúng để các sư cô ghi tên họ được đưa về Tây Phương Cực Lạc, đó là một việc làm mê tín lạc hậu nhất trong các kinh sách phát triển mà các sư cô thực hiện.
Những việc làm này là những việc phỉ báng Phật giáo, có mục đích tiêu diệt Phật giáo, thấy những việc làm này người có trí hiểu biết sẽ đánh giá Phật giáo là một loại tôn giáo mê tín, lừa đảo, tín đồ, do đó việc làm này  không có lợi mà còn có hại cho Phật giáo rất lớn.
Những việc làm này nó không có lợi ích cho con người khiến cho con người tiền mất tật mang chỉ có những người hành nghề bất chánh này là có lợi ích mà thôi.
Bằng chứng như trong thư đã nêu, các ni sư chỉ hành một cái nghề mê tín này mà nhà chùa có hằng tỷ bạc dám bỏ tiền ra di dân để nhà chùa được rộng rãi khang trang hơn. Cho nên không có cái nghề nào làm giàu dễ như làm nghề mê tín trong các chùa.
Nghề mê tín là nghề bói khoa, chiêm tinh, cúng sao, giải hạn, xem ngày giờ tốt xấu dựng vợ gả chồng, làm nhà xây mồ mả v.v....
Nghề mê tín là nghề cúng bái, tụng niệm, cầu siêu, cầu an, làm ma chay, làm tuần cúng vong, tiễn linh, mở cửa mả, đốt tiền vàng mã và nghề dán kho đụn, quần áo, mũ nón v.v......đó là nghề lừa đảo lường gạt tín đồ Phật giaó. Kinh sách Nguyên Thủy không bao giờ đức Phật dạy, duy chỉ có kinh sách phát triển mới có dạy điều này mà thôi
Người cư sĩ đệ tử của đức Phật phải có trí tuệ, phải xác nhận thấy biết những điều mê tín không lợi ích cho mình cho người, những điều phi lý mất công bằng, vô đạo đức thì nhất định không làm theo, hoàn toàn không để cho người khác lợi dụng mình, lừa đảo mình. Có như vậy mới làm sáng tỏ lại Phật giáo, mới đem lại nền đạo đức nhân bản không làm khổ mình khổ người.
Nếu phật tử không sáng suốt vô tình làm theo những lời dạy mê tín của giáo pháp kinh sách phát triển thì đó là quý vị đã tiếp tay với kinh sách phát triển diệt Phật giáo và như vậy quý vị sẽ tự đánh mất nền đạo đức nhân bản - nhân quả của đạo Phật, nền đạo đức nhân bản - nhân quả của đạo Phật mất đi là quý vị không còn có đường lối tu hành giải thoát, và như vậy quý vị đã tự làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh.
Tóm lại, quý vị cư sĩ phải đề cao cảnh giác và thường nên tránh xa những giáo pháp trừu tượng, mê tín, cúng bái, cầu siêu, cầu an, bùa chú, thần thông, dù bất cứ những loại thần thông nào, chúng là những pháp môn lừa đảo chứ không có ích lợi gì cho ai cả, quý vị nên nhớ kỹ đừng để mắc lừa, tốn hao tiền bạc, công sức tu tập mà chẳng giải thoát gì, chỉ phí uổng công khó cho một đời tu mà thôi.

BẤT ƯNG TRỤ SẮC SANH TÂM.... CÓ GIỐNG BẤT ĐỘNG TÂM ĐỊNH KHÔNG ?

Hỏi:Kính bạch Thầy, kinh Kim Cương dạy: “Bất ưng trụ sắc sinh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sinh tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Vậy có giống Định Bất Động Tâm hay Định Vô Tướng hay phòng hộ: mắt, tai, mũi, miệng, thân và ý không cho dính mắc sáu trần không?
Vậy thì vô tâm, nhưng liễu liễu thường tri (rõ ràng thường biết có giống tác ý câu: “tâm như cục đất không?
Tâm như đất, có sợ rơi vào vô ký không?
 Đáp:Kinh Kim Cang thuộc về hệ thống Bát Nhã, Bát Nhã là không. Câu kinh trên đây diễn tả vị trí chân không diệu hữu của triết học tánh không, thì không thể nào là bất động tâm định, bất động tâm định do ly dục ly ác pháp hay nói một cách khác hơn bất động tâm định là tâm không phóng đật, nên Đức Phật dạy: “Ta thành Chánh Giác là nhờ tâm không phóng dật”.
Bất động tâm định là một quá trình tu tập bằng một cuộc sống đúng giới luật, không hề vi phạm một lỗi nhỏ nhặt nào cả trong khi giữ gìn giới luật, mà còn tu tập các pháp hành như: Tứ Bất Hoại Tịnh, Tứ Chánh Cần, Tứ Niệm Xứ.....để làm cho thanh tịnh giới luật, nhờ giới luật thanh tịnh tâm mới ly dục ly ác pháp hoàn toàn.
Các nhà kinh sách phát triển chỉ biết lý luận bằng ngôn ngữ hay tuyệt nhưng cuộc sống của các Ngài rất phàm phu (sống phá giới, phạm giới, bẻ vụn giới), nhưng lại khéo dùng những danh từ để che mắt tín đồ: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Đây là những danh từ suông chứ sự sống của con người không thể thực hiện được như vậy, cho nên kinh sách thuộc hệ thống Bát Nhã này từ xưa cho đến nay đã lưu hành hơn hai nghìn năm mà có mấy ai đã tu tập đạt được.
Vô tâm nhưng liễu liễu thường tri nghĩa của nó cũng giống như chân không diệu hữu, chỉ nói được chứ không sống với cái đó được là tại vì nó là cái bánh vẽ, còn câu tác ý tâm như cục đất là câu pháp huấn luyện tâm để tâm huân thành thói quen như đất chứ không phải tâm là cục đất thật. Vì thế, tâm làm sao rơi vào vô ký được.
Nghe hướng tâm như đất là người ta sợ tâm thành đất thật sự, đất là đất tâm là tâm có nghĩa là tâm không làm khổ mình khổ người nữa tức là tâm không còn mang bản chất hoang dã của loài cầm thú nữa, chứ không phải tâm như cục đất vô tri vô giác (vô ký) như con hiểu.
Tâm như cục đất, có nghĩa là tâm không có dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Tâm không có dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu là tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ. Tâm như mọi người đang sống nhưng không có tham, sân, si, mạn, nghi.

NHỮNG TU SĨ PHẠM GIỚI LÀ NHỮNG TU SĨ NGOẠI ĐẠO ĐANG DIỆT PHẬT GIÁO

Hỏi:Kính bạch Thầy, đệ tử của Phật sao lại nói dối?
Chùa ngoài Bắc, các thầy lập đàn quy y cho cư sĩ, bảo chúng con đi chợ mua thức ăn thì nên mua con cá to đỡ tội hơn nhiều con cá bé. Có thầy còn lại nói: “Ăn mặn nói ngay ăn chay nói dối” Theo như con một người cư sĩ còn không nói huống là một tu sĩ nói ra như vậy còn thể thống gì là tu sĩ. Một người tu sĩ mà ăn nói như vậy là phá giới phạm giới là loại quỷ vương đội lốt nhà tu để diệt Phật giáo chứ những hạng người này có tu hành gì đâu.
Nghe chúng con ăn trường chay các Thầy khuyên: “Các con còn công việc nhà nên mỗi tháng chỉ ăn mấy ngày thôi”
Kính thưa Thầy, chúng con ăn trường chay mấy năm nay rồi, cơ thể hơi gầy đi một chút, nhưng công việc gia đình chúng con làm tất cả và không thấy ảnh hưởng xấu gì cho đời sống của chúng con.
Chị Liễu Hương ăn trường chay mà còn ăn ngày một bữa , chị rất khỏe, làm mọi công việc. Chúng con mong Thầy dạy rõ về ăn chay và ăn mặn có lợi và có hại như thế nào để mọi người thấu rõ.
Đáp: Những lý luận của các tà sư ngoại đạo luôn luôn luận để phá giới luật của Phật đó là một ý đồ diệt Phật giáo trên hành tinh này, các cư sĩ đệ tử của Phật phải tránh xa những ác tri thức này, họ không phải là những người tốt với đạo Phật.
Họ biến ông Phật thành ông thần, họ biến chùa Phật thành cảnh du ngoạn cho khách hành hương, Phật và chùa không còn là cảnh tu hành nữa.
Họ chỉ còn biết ăn uống, xe cộ, tiền bạc danh lợi, chùa to, Phật lớn v.v....chứ sự giải thoát không còn nữa.
Phật giáo đến hồi đen tối mới sản xuất ra những người tu sĩ này, mượn chiếc áo cà sa ngồi mát ăn bát vàng, các phật tử nên đề cao cảnh giác đừng để mắc lừa những vị thầy này. Họ là Ma Ba Tuần trong đạo Phật, họ đang tìm cách diệt Phật giáo để cho họ được tự do chay theo dục lạc thế gian. Quý phật tử cần nên đề cao cảnh giác những người tu sĩ này.

ĐỨC PHẬT ĐÃ THÀNH PHẬT TỪ VÔ LƯỢNG KIẾP CÓ ĐÚNG KHÔNG?

Hỏi: Kính bạch Thầy, trong nhiều kinh nói: Đức Phật đã thành Phật từ vô lượng kiếp, vì thương chúng sanh thị hiện vào làm con vua Tịnh Phạn ở cõi Sa Bà để hóa độ chúng sanh.
Theo như HT giảng trong ĐVXP, chính niệm tỉnh giác ở giai đoạn bốn “khi bỏ thân này (chết) đi đầu thai vào trong thai mẹ, ở trong thai mẹ, ra khỏi thai mẹ và lớn lên đều biết”
Đã như thế thì có nhớ biết được tiền kiếp không? Như vậy sao lúc đầu Phật còn tu sai?
Hay do Phật phương tiện để hóa độ chúng sanh cho nên lúc quyền lúc thật là như thế?
 Đáp:Nhiều kinh nói về đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thành Phật từ vô lượng kiếp, nhưng đó là những kinh sách phát triển, do tưởng của người sau bịa đặt ra. Sự thật luôn có sức mạnh của nó, và lịch sử đã chứng minh điều này. Đức Phật sanh ra cũng có cha mẹ lớn lên có vợ con cũng giống như bao nhiêu người khác trên hành tinh này. Vì ngao ngán đời người sanh ra để thọ khổ, nên Ngài từ giã cung vàng điện ngọc cha già, vợ trẻ, con thơ để đi tìm đường thoát khổ. Sau bao năm tu hành không đúng chánh pháp, tưởng chừng như Ngài sắp chết, bỏ xác giữa rừng già. Phước của chúng sanh trên hành tinh này còn nên cuối cùng Ngài đã tìm ra một lối đi giải thoát, mà thời ấy không có tôn giáo nào có được giáo pháp chân lý ấy.
Sau 49 ngày dưới cội cây Bồ Đề, Ngài chứng quả giải thoát, từ đó mới bắt đầu có đạo Phật. Đạo Phật một nền đạo đức nhân bản - nhân quả không làm khổ mình khổ người, mà con người đã có sẵn nhưng có mấy ai biết đến. Bài pháp đầu tiên TỨ DIỆU ĐẾ đã làm sáng tỏ những gì con đã từng có mà không biết, nhưng sau này kinh sách phát triển bịa đặt ra và bóp méo làm sai lệch lịch sử của một con người toàn thiện như Ngài, một ân nhân của loài người.
Sau khi chứng quả chánh giác Ngài đã thấu suốt đường đi, nên trong kinh Ngài dạy: “có bốn giai đoạn tỉnh thức:
1- Tỉnh thức khi chết vào thai mẹ.
2- Tỉnh thức khi ở trong bụng mẹ.
3- Tỉnh thức khi xuất thai.
4- Tỉnh thức trong khi còn bé
Bốn sự tỉnh thức này là những pháp môn tu tập để làm chủ bốn sự khổ đau của kiếp người.
Kinh sách viết sai sự thật là những kinh sách không đáng tin cậy, vì thế, đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy: “Có 10 điều chớ có tin.....”.
Đức Phật đã nhắc chúng ta như vậy thế mà những kinh sách nói không đúng sự thật thì chúng ta lại tin được sao?
Chúng tôi nghĩ đức Phật thường dạy thẳng thực hành vào pháp môn của Ngài hơn là dùng phương tiện, vì dùng phương tiện người tu hành dễ bị lệch lạc vào ngoại đạo. Đức Phật là người thẳng thắn, không giả dối, nên không dụng quyền, người sau không hiểu nên đã dùng nhiều phương tiện vì thế, khiến cho đạo Phật ngày nay mới ra nông nỗi này, mới trở thành một tôn giáo thần quyền.

ĐẠO PHẬT CÓ CÒN TRỞ LẠI NHƯ NGÀY XƯA NỮA KHÔNG ?

Hỏi: Kính bạch Thầy, đến bao giờ các vị sư là bậc Thánh Tăng?
Đến bao giờ đạo Phật trên hành tinh này mới trở về đúng nghĩa như thời kỳ đức Phật còn tại thế?
Đến bao giờ các vị sư mới giữ gìn đúng giới luật?
Đáp:Tùy theo phước báo của chúng sanh trên hành tinh này mà các bậc Thánh Tăng xuất hiện ra đời để quét sạch những tà sư ngoại đạo mạo danh là Phật giáo, chừng đó tất cả tu sĩ Phật giáo mới là những bậc Thánh Tăng.
Khi nào tu sĩ sống đúng giới hạnh thì Phật giáo trên hành tinh này mới trở về đúng nghĩa đạo giải thoát như thời kỳ đức Phật còn tại thế.
Khi nào tất cả phật tử thông suốt đạo đức nhân bản nhân quả không làm khổ mình khổ người của Phật giáo thì các vị sư mới giữ gìn đúng giới luật.
Khi nào sự mê tín trong các chùa không còn nữa thì các vị sư mới giữ gìn đúng giới luật.
Khi nào tất cả phật tử không cúng dường trai Tăng cho những vị Tăng phạm giới, phá giới, bẻ vụn giới thì các vị sư mới giữ gìn đúng giới luật.
Khi nào chương trình giáo dục đào tạo tám lớp học Bát Chánh Đạo được mở mang khắp nơi để phật tử và tăng ni tham dự những lớp học này thì các vị sư mới giữ gìn đúng giới luật.

TIỀN THÂN

Hỏi:  Kính bạch HT trong sách có nói về Tô Đông Pha tiền kiếp trước là một thiền sư nổi tiếng. Vậy điều đó đúng hay sai? Và tại sao một thiền sư không tiến thân ở kiếp sau là một tu sĩ giải thoát mà phải lui lại làm một cư sĩ có vợ con ?
Đáp:Từ một thiền sư tu hành chứng đạo thân tâm thanh tịnh làm chủ sự sống chết, chấm dứt luân hồi. Thế mà, lại có hậu kiếp, như vậy Thiền Tôn có đúng là con đường của đạo Phật không? Khi một người tâm đã hết tham sân, si, mạn, nghi thì làm sao còn tương ưng với ai mà tái sinh luân hồi được. Phải không con?
 Hậu kiếp là một cư sĩ có thê thiếp, như Tô Đông Pha thì còn nghĩa lý gì của đạo giải thoát? Từ nước đục trở thành nước trong là khó chứ không phải dễ, từ nước trong trở thành nước đục là dễ chứ đâu phải khó. Cho nên Thiền Đông Độ tu hành không giải thoát nên có những câu chuyện ngược đời mà người trí không thể chấp nhận được. Bởi vậy người ta phá giới luật của Phật, người ta sống không có đạo đức, sống không có đạo đức thì lấy cái gì dạy người khác tu, do đó mới có những cư sĩ có vợ con tâm còn dâm dục ăn uống phi thời mà dạy đạo giải thoát thì giải thoát chỗ nào?
Chỉ có kinh sách phát triển mới có cư sĩ Duy Ma Cật v.v... Thiền Tông mới có cư sĩ Tô Đông Pha v.v.....
Người ta đâu biết rằng giới luật đạo đức của đạo Phật là pháp môn tu hành làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi. Vì thế người nào sống phạm giới, phá giới mà nói tu giải thoát là nói vọng ngữ, là lừa đảo người khác.
Có bao giờ chúng ta nghe Phật Thích Ca thành Phật mà còn trở lại làm chúng sanh nữa không? Trước khi chết Ngài nói:“Ta chỉ còn một kiếp làm người này nữa thôi”. Nghĩa là Ngài tu thành Phật rồi thì không bao giờ tái sanh làm người nữa. Vì từ nước đục Ngài lóng được nước trong, cho nên nước đã trong thì không bao giờ Ngài để nước đục trở lại, vì đạo Phật là đạo trí tuệ.
Câu chuyện tiền thân đức Phật là câu chuyện ngụ ngôn, câu chuyện người sau bịa đặt để ca ngợi đức Phật dùng Bồ Tát hạnh hành Bồ Tát đạo theo kiểu kinh sách phát triển.
Chỉ còn có một kiếp này mà thôi cho nên đức Phật di chúc: “các con tự thắp đuốc lên mà đi” và “hãy lấy Giới luật và giáo pháp của Ta làm Thầy”.
Thiền Đông độ và kinh sách phát triển dùng danh từ hóa độ chúng sanh để lừa đảo tín đồ, khi làm Phật, khi làm chúng sanh, vì thế câu chuyện Tô Đông Pha là câu chuyện tưởng của các học giả bịa đặt ra để chứng tỏ Bồ Tát Hạnh hành Bồ Tát đạo.
Câu chuyện Quan Công - Hạng Võ; câu chuyện Tần Cối - Nhạc Phi; Câu chuyện Phật Ấn - Tô Đông Pha là những câu chuyện nhân quả luân hồi theo kiểu Trung Hoa chứ Phật giáo không có nhân quả tưởng như vậy.
Những câu chuyện này đã minh xác cho quý vị biết kết quả tu hành của Thiền Tông, xin mọi người lưu ý và cảnh giác lưỡi lừa của các thiền sư ngoại đạo.

BÁT NHÃ TÂM KINH

Hỏi:Kính bạch Thầy, Kinh Bát Nhã: Quán Tự Tại Bồ Tát hành sâu Bát Nhã Ba La Mật, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách hoặc đối cảnh vô tâm....
Tất cả những câu pháp đó có đồng nhất với câu pháp hướng tâm như lý tác ý trong ĐVXP - HT dạy: “Tâm như cục đất” không ?
Đáp:Không, pháp hướng tâm “Tâm như cục đất” là một phương pháp tự kỷ ám thị để rèn luyện nội tâm của mình, chứ không phải một lời suông như trong Tâm Kinh Bát Nhã “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”. Câu kinh này là câu kinh nhật tụng hằng ngày trong các chùa không có ngày nào mà tu sĩ Phật giáo không tụng niệm câu kinh này, thế mà những người tụng niệm câu kinh này có bao giờ hết khổ ách chưa ? Từ các Tổ xa xưa cho đến các Thầy hiện giờ không ngày nào là không tụng niệm, thế mà ngũ uẩn có không đâu, nó đang hành hạ các Tổ và các Thầy đủ thứ tai họa, như vậy kinh chỉ nói chứ không có hành được là vì nó không có pháp hành. Còn pháp hướng tâm tự kỷ ám thị là một pháp môn thực hành nó đã mang đến kết quả chúng ta thấy rõ ràng, khi chúng ta giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh.
Vì thế hai pháp môn này không có giống nhau chút nào cả, một pháp môn nói được mà không hành được, nó là một triết học tánh không, (hý luận của Long Thọ) còn một pháp nói được làm được, nó là một nền đạo đức nhân bản - nhân quả của loài người, nó không phải là triết học, mà là đạo đức học. Nó là một môn học, đưa ra những hành động sống hằng ngày để con người áp dụng vào đời sống mà không trái với qui luật tự nhiên của bản chất con người. Cho nên càng áp dụng vào đời sống thì càng thích thú hơn nhiều vì nó mang lại hạnh phúc và sự an vui cho cá nhân và tập thể.
Nói đến đạo đức là nói đến sự sống an lành của mỗi con người, vì thế nó phải là một pháp môn cụ thể thực tế, không lý luận quanh co, không tưởng giải ra những điều  trừu tượng ảo giác không thật.
Hành thâm Bát Nhã Ba La Mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Hành thâm như thế nào? Chiếu kiến như thế nào? Tụng niệm hay là quán xét? Tụng niệm thì các chùa đã từng tụng niệm hằng ngày, còn quán chiếu thì người ta đã quán chiếu quá nhiều, nhưng ai là người đã độ được khổ ách? Người ta đã thực hiện nằm lòng những câu kinh này, nhưng tìm thấy sự giải thoát trong tâm thì chưa có ai cả. Tại sao vậy?
Vì nó là một triết học, một lý luận suông của những nhà học giả, không có kinh nghiệm tu hành.

VÔ KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO

Hỏi:Kính bạch Thầy, không có ngã, không có ta và không có cái của ta, nếu quán chiếu được như thế thì mới có luận: vô khổ, tập, diệt, đạo.
Đáp:Đúng, là cái hý luận của các nhà học giả của kinh sách phát triển, vì không có cái ngã, không có cái ta và không có cái của ta nên mới có chỗ đập phá chân lý của Phật giáo là “vô khổ, tập, diệt, đạo”, nên mới có chỗ cấm tín đồ Phật giáo nếu ai tu theo Thanh Văn Nhị Thừa thì sẽ bị khinh cấu tội. Bởi vì con người không có cái ngã, không có cái ta, không có cái của ta nên chân lý khổ, tập, diệt, đế làm sao có được. Không có cái ngã, không có cái ta, không có cái của ta thì con người là gốc cây là cục đá, cho nên chân lý khổ, tập, diệt, đế của đạo Phật là chân lý của con người chứ không phải chân lý của cục đá, gốc cây, Khổ, tập, diệt, đạo đế là chân lý của con người có cái ngã, có cái ta, có cái của ta. Con người tu hành trở thành cục đá gốc cây mới sản xuất ra trí tuệ Bát Nhã Tâm Kinh, để trong các chùa hằng ngày tụng niệm “Vô khổ, tập, diệt, đạo” để diệt mất cái chân lý này đi, diệt mất cái chân lý này để làm gì? Diệt mất cái chân lý này là diệt mất Phật giáo.
Sau khi đức Phật tịch thì Phật giáo ngay trên quê hương của Người đã bị quét ra khỏi và cũng không còn dấu vết gì của Phật giáo ở trên đất nước này.
Bây giờ chúng ta trở về thăm quê hương xứ Phật những nơi di tích này mới được trùng tu, trùng tu để thu tiền khách tham quan vãng cảnh, chứ đâu có ý nghĩa làm cho Phật giáo sống, sống với đất nước Ấn Độ nữa. Một cái gì cao quý và đẹp đẽ nhất của nước Ấn độ đã bị lòng ganh tỵ nhỏ hẹp của các tôn giáo ích kỷ tại quê hương này đã diệt mất rồi, còn đâu nữa. Có còn cũng chỉ là hình thức kinh doanh tôn giáo mà thôi.
Đúng như con đã nói: “Không có ngã, không có ta, không có cái của ta, nếu quán chiếu như thế thì mới có luận vô khổ, tập, diệt, đạo”, vậy không cócái ngã, cái ta, cái của ta thì lấy cái gì quán chiếu, nếu có cái quán chiếu được thì phải có ngã, có ta, có cái của ta, ngoài ra ba cái này, thì không có cái quán chiếu. Vì thế cái quán chiếu này là cái ảo giác trừu tượng, không phải của con người. Không phải của con người thì cái này không phải của Phật giáo. Vì Phật giáo lấy con người làm nơi tu hành giải thoát cho con người, ngoài con người ra thì không có cái gì để tu hành cả, vì con người khổ nên đạo Phật ra đời giải quyết sự đau khổ cho con người, mà con người thì phải có cái ngã, cái ta, cái của ta, nhưng cái ngã, cái ta, cái của ta đều thiện thì có làm khổ mình khổ người đâu mà chúng ta lại dẹp bỏ nó, chúng ta chỉ dẹp cái ngã, cái ta, cái của ta trong ác pháp, vì cái ngã, cái ta, cái của ta trong các ác pháp là cái thường làm khổ mình khổ người, nên đức Phật dạy: “ngăn ác diệt ác pháp sanh thiện tăng trưởng thiện pháp” thì chân lý khổ, tập, diệt, đế mới thật là chân lý của loài người.
Bởi vậy lý Bát Nhã chỉ áp dụng vào thế giới tưởng của Long Thọ chứ không thể áp dụng cho loài người được. Vì nó là một ảo giác chân không diệu hữu.

KINH KIM CANG

Hỏi: Kính bạch Thầy, kinh Kim Cang có phải Phật thuyết không ?
Câu do chấp bốn tướng nên sinh ra nhiều kì sự: Ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, hay câu :phàm cái gì hữu tướng đều hư hoại.
Đáp:Kinh Kim Cang không phải Phật Thuyết, do các Tổ sau này biên soạn ra, kinh này xuất xứ trong thời Ngài Long Thọ....
Các nhà tưởng giải biên soạn ra kinh Kim Cang thường lý luận chia chẻ thân ngũ uẩn đưa ra nhiều danh từ như: ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, nhưng kỳ thực bốn tướng này cũng chỉ là một tướng của thân ngũ uẩn, nên cuối cùng kết luận bằng một câu kinh: “Phàm cái gì hữu tướng đều hư hoại”. Đó là một lối hý luận lòng vòng quanh co mà không có lối thoát, tức là không có pháp hành. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã xác định thân ngũ uẩn cụ thể rõ ràng và dễ hiểu: “Con người do năm uẩn hợp lại mà thành, nên vô thường không có thật thể, chết là hết không còn có một vật gì lưu lại”.
Trong kinh sách Nguyên Thủy đức Phật xác định rất rõ ràng về các tướng như: nhân tướng, đặc tướng, hành tướng của thân ngũ uẩn, với sự chia ra các tướng này là để giúp cho người tu sĩ áp dụng các pháp hành trên ba tướng này để đi đến sự giải thoát hoàn toàn, làm chủ bốn sự đau khổ của kiếp người chứ không như lý luận suông như trong kinh Kim Cang Bát Nhã bằng cách chơi chữ. Nêu lên bốn tướng của thân ngũ uẩn để chứng tỏ mình là nhà phân tích hay, nhưng lại là thứ “dỏm”.
Đọc suốt bộ kinh Kim Cang ta không thấy có một pháp hành nào cả chỉ toàn là hý luận lý thuyết suông. Cho nên nói được nhưng chưa có ai làm được như trong kinh này. Kinh này từ xưa đến nay đã cho chúng ta ăn toàn thứ bánh vẽ. Chúng tôi nói nhưng quý vị đừng vội tin mà hãy suy ngẫm, chúng tôi nói là tỉnh thức quý vị mà thôi, chúng tôi nói là gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh, tin hay không tin là quyền của quý vị.
Kinh sách phát triển bày vẽ lý luận phân tích chia chẻ ra cho nhiều để làm rối loạn đường tu hành của tín đồ Phật giáo.

TRANH LUẬN


LỜI PHẬT DẠY
“Này các Tỳ Kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỳ Kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ một ai ở đời”.
(Tương Ưng Kinh tập 3 trang 249)
CHÚ GIẢI:
Ngày xưa, lúc đức Phật còn tại thế, Ngài thuyết pháp là dựng lại những pháp nào đúng với chân lý giải thoát của loài người. Ngài còn mạnh dạn chỉ thẳng và dẹp bỏ những pháp nào sai, để cho người đời sau biết rõ tránh không lầm lạc. Vì thế, ngoại đạo tức giận thường tìm Phật tranh luận hơn thua cao thấp. Cho nên đoạn kinh trên đây là đức Phật đã xác định Ngài không tranh luận hơn thua bất cứ một ai. Nhưng những pháp nào lừa đảo làm cho con người hao tài tốn của một cách nhảm nhí và tốn hao công sức tu hành không được những gì ích lợi thiết thực, thì Ngài nói thẳng, chỉ thẳng để dẹp bỏ. Cho nên, trong cuộc đời thuyết pháp độ sanh Ngài bị ngoại đạo lăn đá, cho voi say đến giết Ngài, và cho phụ nữ giả mang thai, vu khống Ngài, làm cho mất uy tín... Nhưng tà pháp sao thắng được chánh pháp. Cuối cùng, đức Phật đã giảng dạy cho loài người đầy đủ các pháp hành về đạo đức làm người không làm khổ mình, khổ người. Đến 80 tuổi Ngài ra đi với tâm nguyện viên mãn, để lại cho chúng sanh một nền đạo đức nhân bản tuyệt vời tức là bốn chân lý.
Chúng tôi là đệ tử của Phật, noi gương Ngài, những gì của Phật đã bị ngoại đạo ném bỏ xuống, thì chúng tôi dựng lại, còn những gì không phải của Phật, gây ảnh hưởng xấu tai tiếng cho Phật giáo, gây ảo tưởng, trừu tượng, mê tín, lạc hậu v.v.. khiến cho Phật giáo suy đồi, thì chúng tôi ném bỏ xuống hết. Bởi vì khi tu xong chúng tôi như những người đứng trên núi cao nhìn xuống, thấy kinh sách Đại Thừa và các Tổ tu hành không đúng với chánh pháp của Phật, chúng tôi đều biết rõ. Do đó, Tổ nào có ý đồ ném bỏ và kiến giải sai về Phật giáo thì chúng tôi có bổn phận phải chỉnh đốn lại và làm cho con đường Phật giáo sáng chói huy hoàng, chứ không thể để cho Phật giáo biến thành một đống rác giáo lý tổng hợp (84 ngàn pháp môn). Nhờ đống rác giáo lý ấy, mới có một số người lợi dụng làm nghề sinh sống mê tín, lừa đảo và làm cây chùm gửi, ăn bám vào người khác, biến họ trở thành gánh nặng cho xã hội.
Lời nói này, tin hay không tin là quyền ở các bạn. Nhưng chúng tôi tin chắc rằng: các bạn đều là những người có trí, thấy rộng hiểu xa, thì lời nói của chúng tôi không phải là vô ích. Còn riêng chúng tôi là tu sĩ Phật giáo, có bổn phận phải dựng lại những gì của đức Phật đã bị ném bỏ, và dẹp bỏ những gì không phải của Phật giáo.
Theo lời Phật dạy trên đây, chúng tôi xin gửi đến các bạn một bức tâm thư để các bạn tránh những lỗi lầm dẫm lại lối mòn của Bà La Môn ngày xưa, luôn luôn tìm cách tranh luận hơn thua với Phật, nói xấu Phật, diệt Đạo Phật, nhưng Đạo Phật chân chánh ngày nay vẫn còn. Phải không các bạn?

KHÔNG TÁNH


LỜI PHẬT DẠY
“Thật vậy, này Ananda, điều ông đã nghe là nghe đúng, thọ trìđúng, thuở xưa và nay. Này Ananda, Ta nhờ an trú không, nên nay an trú rất nhiều.
(Kinh Trung Bộ tập II trang 292,
kinh Tiểu Không)
CHÚ GIẢI:
Kính thưa các bạn! Đọc đoạn kinh trên đây các bạn cần phải hiểu hai từ Không Tánh. Vậy Không Tánh nghĩa là gì?
Từ xưa đến nay chúng ta thường chịu ảnh hưởng nghĩa lý của Đại Thừa về tánh không. Tánh không của Đại Thừa có nghĩa Chân Không diệu hữu, Trí Tuệ Bát Nhã“Sắc tức thị không, không tức thị sắc”.
 Cho nên, khi gặp không tánh của Nguyên Thủy thì mấy ai dám hiểu nghĩa khác. Do nhân duyên này chúng tôi sẽ giảng bài kinh Tiểu Không để các bạn hiểu đúng nghĩa của Phật dạy, không còn bị ảnh hưởng tư tưởng, tưởng giải của các Tổ Đại Thừa nữa.
Khởi duyên của bài kinh này là do ông A Nan hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn con được nghe trước mặt Thế Tôn, con được ghi nhớ trước mặt Thế Tôn: “Này A Nan, Ta nhờ an trú không, nên nay an trú rất nhiều”, phải chăng bạch Thế Tôn điều con đã nghe là đúng, ghi nhớ đúng, tác ý đúng, thọ trì đúng”.
Lúc bấy giờ đức Phật trả lời ông A Nan mà chúng ta giảng bài kinh này làm tiêu đề cho bài pháp hôm nay.
Chúng tôi xin nhắc lại đoạn kinh này một lần nữa để các bạn lưu ý. “Thật vậy, này A Nan, điều ông đã nghe là nghe đúng, tác ý đúng, thọ trì đúng, thuở xưa và nay, này A Nan Ta nhờ an trú không, nên nay an trú rất nhiều”. Trong câu này chúng ta phải hiểu xưa kia trong lúc đang tu tập đức Phật cũng nhờ an trú trong không này, đến nay thành tựu được chánh pháp, tức là đức Phật đã chứng đạo, nhưng vẫn an trú thường xuyên rất nhiều trong không ấy.
Đấy là ý nghĩa của đoạn kinh này. Nhưng cái khó hiểu là ở không tánh này. Vậy không tánh này là gì?
Trong kinh Tiểu Không đức Phật đã đưa ra nhiều ví dụ để mọi người dễ hiểu, nhưng trước khi giải thích những ví dụ này chúng tôi xin các bạn lưu ý và phải hiểu cho rõ ràng mục đích của đạo Phật. Vậy mục đích của đạo Phật là gì?
Theo trong kinh sách Nguyên Thủy thì chân lý thứ ba là mục đích của đạo Phật. Một mục đích mà người tu tập nào cũng cần phải đạt cho bằng được. Mục đích đó là “Diệt Đế”. Diệt đế là một trạng thái diệt hết nguyên nhân sinh ra mọi thứ khổ đau, cho nên khi nào chúng ta tu tập đoạn diệt hết tâm dục tức là diệt hết lòng ham muốn, diệt hết lòng tham muốn tức là tâm bất động. Tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ tức là vô tướng tâm định. Trong vô tướng tâm định không có dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Do ba lậu hoặc này không có nên gọi là vô tướng tâm định. Vô tướng tâm định tức là tâm không phóng dật. Cho nên đức Phật dạy: “Ta thành Chánh giác là nhờ tâm không phóng dật”. Tâm không phóng dật tức là tâm thanh thản, an lạc và vô sự. Tâm thanh thản, an lạc và vô sự tức là tâm không động hay gọi “không tánh”. Không tánh tức là tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ, chứ không phải không tánh là “Tánh không”. Các bạn đừng hiểu lầm như các Tổ. Ở đây Phật không nói Tánh không như trong kinh Đại Bát Nhã của Đại Thừa. Trong đoạn kinh trên đây đức Phật đã dạy: ‘Thật vậy, này A Nan, điều ông đã nghe là nghe đúng, ghi nhớ đúng, tác ý đúng, thọ trì đúng, thuở xưa và nay. Này A nan, Ta nhờ an trú không, nên nay an trú rất nhiều”. An trú “KHÔNG”của Phật giáo không có nghĩa là Tánh không, Chân không, Trí Tuệ Bát Nhã Ba La Mật. Chữ KHÔNGcó nghĩa không chướng ngại pháp, tức là không có dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.
Dó đó, chữ KHÔNG TÁNHphải hiểu nghĩa đúng đắn theo Tứ Diệu Đế, chứ không thể hiểu nghĩa theo kiểu Đại Thừa và Thiền Tông. Không tánh là tánh không, là Phật tánh là sai.
Vậy các bạn hãy lắng nghe đức Phật định nghĩa chữ không tánh: “Ví như lầu đài Lộc Mẫu này không có voi, bò ngựa, ngựa cái, không có vàng và bạc, không có đàn bà, đàn ông tụ hội, và chỉ có một cái không phải không, tức là sự nhất trí do duyên chúng Tỳ kheo; cũng vậy, này A Nan, Tỳ kheo không tác ý thôn tưởng, không tác ý nhân tưởng, chỉ tác ý sự nhất trí, do duyên lâm tưởng. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú hướng đến lâm tưởng. Vị ấy tuệ tri như sau: “cái ưu phiền do duyên thôn tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên nhân tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên lâm tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có thôn tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có nhân tưởng. Và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên lâm tưởng”. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây vị ấy tuệ tri: “Cái kia có, cái này có”. Như vậy, này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có không điên đảo, sự thật là hoàn toàn thanh tịnh, không tánh”.
Đọc đoạn kinh này các bạn có hiểu không? Chúng tôi xin trích ra từng đoạn ngắn, ở lầu đài Lộc Mẫu này không có voi, bò ngựa, ngựa cái, không có vàng và bạc, không có đàn ông đàn bà tụ hội, ý đoạn kinh này đức Phật muốn nói gì? Đức Phật nói trong lầu đài Lộc Mẫu này nếu có voi bò ngựa cái, vàng bạc, đàn ông, đàn bà tụ hội thì không yên lặng, gây ra ồn náo và chướng ngại khiến tâm bất an, còn nếu không có những loài vật này thì cảnh xung quanh lầu Lộc Mẫu này sẽ yên lặng không gây ồn náo và chướng ngại khiến tâm được yên lặng và bất động, nên Phật dạy: “chỉ có một cái không phải không”, cái không phải không này là cái có mà không làm chướng ngại tâm, cho nên không có voi, bò, ngựa, ngựa cái, vàng bạc, đàn ông đàn bà tụ hội thì trong lầu đài Lộc Mẫu này yên lặng bất động. Có đúng như vậy không các bạn? Như vậy không tánh là chỗ bất động tâm, chứ không phải là tánh không.
Các bạn hãy lắng nghe đoạn kinh tiếp: “Này Ananda, Tỳ kheo không tác ý thôn tưởng, không tác ý nhân tưởng, chỉ tác ý sự nhất trí do duyên lâm tưởng. Tâm của vị ấy được thích thú hân hoan, an trú hướng đến lâm tưởng, vị ấy tuệ tri như sau: cái ưu phiền do duyên thôn tưởng không có mặt ở đây; cái ưu phiền do duyên nhân tưởng không có mặt ở đây, và chỉ có một ưu phiền này tức là sự nhất trí do duyên lâm tưởng”.
Đoạn kinh này xác định không tánh theo từng đối tượng của lầu đài Lộc Mẫu, ở đây đức Phật nêu đối tượng thứ nhất không tánh của lầu đài Lộc Mẫu là không có voi, ngựa, ngựa cái, không có vàng bạc, không có đàn ông, đàn bà v.v.. mà đức Phật gọi chung danh từ này là thôn tưởng, là nhân tưởng. Thôn tưởng có nghĩa là voi, bò ngựa cái, vàng bạc, còn nhân tưởng là đàn bà, đàn ông v.v..
Nếu có những vật này ở trong lầu Lộc Mẫu thì làm sao gọi là không động được. Phải không các bạn? Nếu có vật này thì sẽ làm động tâm chúng ta vì chúng là chướng ngại của tâm. Cho nên đức Phật bảo: “Cái ưu phiền do duyên thôn tưởng và nhân tưởng không có mặt ở đây, và này Ananda cái này đối với vị ấy là thật có như vậy không điên đảo, sự thật hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh”.
Đến đây các bạn đã hiểu không tánh rồi chứ. Không tánh chỉ là tâm bất động, nhưng bất động đối với thôn tưởng và nhân tưởng chứ không phải bất động hết các pháp, vì thế chỉ còn có một ưu phiền này tức là sự nhất trí do duyên lâm tưởng.
Vậy lâm tưởng nghĩa là gì?
Lâm tưởng là rừng cây chung quanh lầu đài Lộc Mẫu, vì có rừng cây nên còn có những chướng ngại trong tâm. Cho nên đoạn kinh dạy: “Chỉ còn có một ưu phiền này tức là sự nhất trí do duyên lâm tưởng”.
Như vậy không tánh không có nghĩa là không có, mà cũng không có nghĩa là chân không, tánh không v.v.. như nghĩa của các nhà Đại Thừa.
Không tánh có nghĩa là không có dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, chứ không phải tánh không của trí tuệ Bát Nhã. Ở đây, nếu các bạn không hiểu rõ mục đích của đạo Phật là chỗ bất động tâm trước ác ác pháp và các cảm thọ, nếu các bạn hiểu khác nghĩa bất động này, là các bạn đã hiểu sai lệch bài kinh trên đây.
Đức Phật dạy:“Thuở xưa và nay, này Ananda, Ta nhờ an trú không, nên nay an trú rất nhiều”. Thuở xưa có nghĩa là lúc mới bắt đầu tu tập đức Phật cũng phải tu tập an trú chỗ bất động tâm này. Đến nay khi tu tập đã xong đức Phật cũng bảo: “Nên nay an trú rất nhiều”. An trú rất nhiều tức là luôn luôn đức Phật sống với tâm bất động khi đã tu chứng đạo.
Vậy chúng ta hãy nghe tiếp Phật dạy: “Cũng vậy, này Ananda, Tỳ kheo không tác ý đối với tất cả những vật gì trên đất này, đất khô, vùng lầy, sông và vùng lầy, các cây có thân và có gai, núi và đất bằng, vị ấy tác ý sự nhất trí do duyên địa tưởng. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan an trú, hướng đến địa tưởng vị ấy tuệ tri như sau: “Các ưu phiền do duyên nhân tưởng không có mặt ở đây, các ưu phiền do duyên lâm tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên địa tưởng, vị ấy tuệ tri như sau: loại tưởng này không có nhân tưởng, vị ấy tuệ tri, loại tưởng này không có lâm tưởng và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên địa tưởng” và cái gì không có mặt ở đây vị ấy xem cái ấy là không có, nhưng đối với cái còn lại, ở đây vị ấy tuệ tri: “cái kia có, cái này có”. Này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có không điên đảo, sự thật hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh”.
Đoạn kinh trên chỉ còn lâm tưởng là chướng ngại làm cho tâm ưu phiền nhưng lại xả bỏ thôn tưởng, nhân tưởng và lâm tưởng nên tâm bất động được các đối tượng này, nhưng lại bị chướng ngại địa tưởng.
Trên đây là một pháp môn loại trừ các lậu hoặc, các chướng ngại pháp và làm cho tâm bất động.
Điều ở đây các bạn nên lưu ý đó là những loại tưởng được loại trừ lần lượt:
-       Đầu tiên loại trừ tưởng trong ngôi lầu đài Lộc Mẫu này là thôn tưởng và nhân tưởng.
-       Loại trừ lần thứ hai là lâm tưởng.
-       Loại trừ lần thứ ba là địa tưởng.
-       Loại trừ lần thứ tư là không vô biên xứ tưởng.
-       Loại trừ lần thứ năm là thức vô biên xứ tưởng.
-       Loại trừ lần thứ sáu là vô sở hữu tưởng.
-       Loại trừ lần thứ bảy là phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng.
Như vậy, tất cả những loại tưởng này đã được loại trừ. Khi loại trừ xong các loại tưởng thì còn lại một cái đó là vô tướng tâm định. “Này Ananda, vị Tỳ kheo không tác ý Vô sở hữu xứ tưởng, không tác ý Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, tác ý sự nhất trí do duyên vô tướng tâm định”.
Bây giờ các bạn đã hiểu rõ không tánh là vô tướng tâm định tức là tâm không có dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Tâm không có dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu là tâm bất động. Đó là mục đích của đạo Phật do ly dục ly ác pháp, chứ không phải Tánh Không, Chân Không Diệu Hữu, Trí Tuệ Bát Nhã. Kinh Tiểu Không ở đây không có những nghĩa đó xin các bạn chớ hiểu lầm, làm lệch ý nghĩa của Phật pháp.
Khi tâm bất động như trên đã nói thì không có dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu thì tâm được giải thoát hoàn toàn, nên người ở trạng thái tâm bất động này liền hiểu rất rõ: “Sanh đã tận Phạm hạnh đã thành, những việc làm nên làm đã làm, không còn phải trở lại trạng thái này nữa”. Vô tướng tâm định này thật hữu vi, do tâm tự tạo nên. Phàm cái gì thuộc hữu vi do tâm tự tạo cái ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt”.
Đọc đến đoạn kinh này các bạn thấy đức Phật đã xác định rất rõ vô tướng tâm định vẫn là pháp hữu vi do tâm tư (ý thức) tạo nên cái ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt. Như vậy làm sao các bạn hiểu nó là Chân Không diệu hữu, Trí Tuệ Bát Nhã, Tánh Không. Những từ này trong kinh sách Đại Thừa chỉ cho Phật tánh là một pháp vô vi thường hằng bất biến. Nhưng ở kinh Tiểu Không này dạy không tánh là pháp hữu vi vô thường chịu sự đoạn diệt. Cho nên, kinh sách các bạn phải hiểu đúng nghĩa, đừng hiểu sai, vì chính hiểu sai mà các Tổ mới kiến giải, tưởng giải sinh ra kinh Đại Bát Nhã, mới có Chân Không Diệu Hữu, Bát Nhã Tâm Kinh. Tất cả những điều này chỉ là một ảo tưởng của kinh sách Đại Thừa, còn kinh Tiểu Không thì không có nghĩa đó. Không có nghĩa đó rất rõ ràng vì vô tướng tâm định, không tánh là một pháp hữu vi vô thường, chịu sự đoạn diệt.
Xin các bạn lắng nghe đoạn kế của kinh Tiểu Không này: “Này Ananda, phàm có những Sa Môn hay Bà La Môn nào trong quá khứ sau khi chứng đạt, đã an trú cứu cánh vô tướng thanh tịnh không tánh, tất cả các vị ấy sau khi chứng đạt đều chỉ an trú cứu cánh vô tướng thanh tịnh không tánh này”.
“Này Ananda, phàm có những Sa Môn hay Bà La Môn nào trong tương lai, sau khi chứng đạt sẽ an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh không tánh, tất cả các vị ấy sau khi chứng đạt, sẽ an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh không tánh này”.
“Này Ananda phàm có những Sa Môn hay Bà La Môn nào trong hiện tại sau khi chứng đạt và an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh không tánh này, do vậy, này Ananda. Sau khi chứng đạt Ta sẽ an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh không tánh”.
Đoạn kinh trên đây đức Phật đã xác định rõ ràng và cụ thể. Người đang tu tập phải tu tập cho đạt được và an trú bất động tâm này. Người đã tu tập xong thì luôn luôn an trú bất động tâm này. Người sẽ tu tập là phải hướng đến an trú bất động tâm này. Và đức Phật đã tu tập xong, Ngài cũng đang an trú bất động tâm này.
Tóm lại, không tánh tức là tâm bất động. Tâm bất động là tâm ly dục ly ác pháp, đó là cứu cánh của Phật giáo, ngoài ra tất cả các pháp khác là tôn giáo ngoại đạo.

TẠI SAO ĐỨC PHẬT BIẾT NẤM ĐỘC MÀ LẠI ĂN


LỜI PHẬT DẠY
            “Này Cunda ăn mộc nhĩ còn lại Ngươi hãy đem chôn vào một lỗ. Này Cunda, Ta không thấy một ai, ở cõi Trời cõi Người, ở Ma giới, ở Phạm thiên giới không một người nào trong chúng Sa Môn và chúng Bà La Môn giữa những Thiên Nhân, món ăn mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai”.
(Kinh Trường Bộ tập 1 trang 624,
kinh Đại Bát Niết Bàn)


CHÚ GIẢI:
Đọc đoạn kinh này chúng ta xét thấy có hai điều vô lý:
1- Người thợ rèn Cunda nấu món ăn mộc nhĩ chưa bao giờ ăn mà lại dám đem dâng cúng Phật và chúng Thánh Tăng. Đó là vô lý thứ nhất. Ai đã soạn câu này và viết vào kinh sách Nguyên Thủy để hủy báng Phật, Pháp, Tăng, để làm kinh sách Phật mất hết ý nghĩa chân thật của nó. Một sự giả dối không thể nào tha thứ được. Một món ăn chưa từng ăn mà dám cho người khác ăn, chỉ đó là món thuốc độc mà thôi.
2- Đạo Phật là đạo trí tuệ, chuyển nhân quả khi biết nấm độc mà ăn là không trí tuệ, nhất là đức Phật biết là nấm độc không cho chúng Tỳ kheo ăn mà mình lại ăn là điều vô lý thứ hai. Nhất là đức Phật là người đã thông suốt luật nhân quả. Luật nhân quả là một đạo luật được chuyển hóa bằng thiện pháp. Cuộc đời tu hành của Phật đã chứng đạo tức là Ngài đã sống toàn thiện. Người sống toàn thiện là người đã chuyển hoá được nhân quả. Cho nên, đối với thân nhân quả của đức Phật Ngài làm chủ hoàn toàn, muốn sống chết đều theo ý muốn của Ngài. Cho nên Ngài dạy: “Này Ananda, những ai đã tu Bốn Thần Túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu muốn, người ấy có thể sống một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu Bốn Thần Túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, này Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. (Kinh Trường Bộ tập I trang 586 kinh Đại Bát Niết Bàn). Đức Phật có đủ khả năng làm chủ nhân quả như vậy mà lại ăn nấm độc để chịu bệnh kiết lỵ ra máu mà chết, thì thật là một điều vô lý hết sức. Làm chủ nhân quả mà để cho nhân quả làm chủ mình thì thật là vô lý. Đoạn kinh này là do người sau không biết luật nhân quả chuyển hóa; không thông năng lực của Tứ Thần Túc của Phật giáo, nên xen đoạn kinh này để che đậy sự tu hành không làm chủ sanh, già, bệnh, chết của mình đối với tín đồ “Chẳng muội nhân quả” chứ không làm chủ nhân quả được.
Theo chúng tôi biết chắc chắn đoạn kinh này là do các Tổ thêm vào để dựng lên thuyết nhân quả định mệnh, tức là nhân quả cố định không thay đổi được, đó là để chỉ rõ pháp môn Đại Thừa và Thiền Tông không làm chủ sanh, già, bệnh, chết, nó là một loại thiền ức chế tâm, chứ không phải là thiền xả tâm, vì thế càng tu càng chạy theo danh lợi và dục lạc thế gian.
Nếu đúng nhân quả là định mệnh thì đạo Phật không bao giờ tuyên bố làm chủ sanh, già, bệnh, chết, và không dạy người tu tập ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện. Vì không chuyển hóa được nhân quả nên đạo Phật không ra đời, vì ra đời có làm lợi ích gì cho ai.
Nếu đúng nhân quả định mệnh thì đạo Phật không bao giờ có pháp môn Tứ Niệm Xứ và Tứ Thánh Định.
Đối với đạo Phật do vô minh mà có nhân quả, thiện ác, khổ đau; do vô minh mà con người mới chạy theo dục mới tạo ra muôn vàn sự khổ đau. Vì thế, đạo Phật ra đời dạy người giới luật và trí tuệ: Giới luật ở đâu thì trí tuệ ở đó, trí tuệ ở đâu thì giới luật ở đó. Giới luật làm thanh tịnh trí tuệ, trí tuệ làm thanh tịnh giới luật”. Đó là những đức hạnh bằng giới luật và tri kiến của con người làm chủ nhân quả theo đúng những pháp hành Tứ Niệm Xứ và Tứ Thánh Định. Các nhà học giả đã phỉ báng Phật trong đoạn kinh này và còn phỉ báng đệ tử của Ngài là ngài Mục Kiền Liên, một vị đệ tử đã tu chứng quả A La Hán có đầy đủ thần thông mà đức Phật thường ca ngợi ngài Mục Kiền Liên là đệ nhất thần thông thế mà bị ngoại đạo đánh chết thì không còn chỗ nào phỉ báng Phật, Pháp, Tăng hơn là kinh sách phát triển do các Tổ Bà La Môn khéo léo xen vào từng đoạn kinh Phật để xuyên tạc phá hoại chánh pháp của đức Phật.
Ở đây chúng tôi xin nhắc lại để thấy một sự vô lý hết sức: Người thợ rèn Cunda chưa bao giờ ăn nấm này, nếu đã ăn thì ông đã chết, vì là nấm độc như đức Phật đã nói: “Này Cunda, Ta không thấy một ai, ở cõi Trời, cõi Người, ở Ma giới, ở Phạm thiên giới, không một người nào trong chúng Sa Môn và Bà La Môn giữa những Thiên Nhân, món ăn mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được.
Khi một món ăn chưa bao giờ mọi người ăn mà đức Phật dạy: “Này Cunda, loại mộc nhĩ đã soạn sẵn, hãy dọn cho Ta, còn các món ăn khác đã soạn sẵn loại cứng loại mềm, hãy dọn cho chúng Tỳ kheo”.
Nếu người thợ rèn Cunda nghe lời dạy này thì phải nghi ngờ và tự hỏi: “Tại sao Phật không cho chúng Tỳ kheo ăn thứ mộc nhĩ này?”. Khi đã có câu hỏi như vậy thì Cunda liền đem món đồ ăn này xem lại.
Khi nghe đức Phật nói như vậy, Ông ta lại dồn món ăn mộc nhĩ này chỉ có đức Phật ăn mà thôi, thì thật là vô lý. Đây là sự vô lý không thể tha thứ được. Có đúng như vậy không các bạn?
Về phần đức Phật là một người tượng trưng cho trí tuệ, Ngài dựng lên nền đạo đức nhân bản - nhân quả, sống không làm khổ mình, khổ người và khổ cả hai mà lại ăn nấm độc để làm khổ mình và gây hoang mang dao động cho chúng Tỳ kheo, nhất là làm cho người thợ rèn Cunda sẽ ăn năn hối hận suốt đời, nếu biết đức Phật vì thọ thực nấm của ông cúng dường mà chết.
Trong khi đức Phật có đủ khả năng tự tại trong sanh tử, muốn chết hồi nào là chết được ngay liền, chết trong khi thân không có một chút bệnh khổ. Chính đức Phật là người chết không vì bệnh đau mới đúng nghĩa của đạo giải thoát. Cho nên ở đây người đời sau đã thêm vào những đoạn kinh làm mất ý nghĩa giải thoát của Tứ Niệm Xứ.
Điều vô lý nhất là đức Phật biết nấm độc mà lại ăn vào chết trong đau bệnh kiết lỵ ra máu. Bệnh kiết lỵ ra máu trong tuổi già như Phật thì khổ sở biết là dường bao.
Cho nên, thật vô lý đạo Phật là đạo tự tại trong sanh tử, cớ sao đức Phật lại phải ăn nấm độc để bệnh rồi chết, chết một cách đau khổ như vậy? Mục đích đạo Phật ra đời là giúp cho con người sống chết tự tại an vui, chết không phải vì bệnh. Vậy ai là người đã viết đoạn kinh này, người ấy phải chịu những tội lỗi rất lớn đối với Phật giáo.
Đạo Phật vốn không làm khổ mình, khổ người, sao Phật lại làm khổ Phật, làm khổ người như vậy? Thì nền đạo đức nhân bản - nhân quả không làm khổ mình, khổ người của Phật giáo đâu còn có nghĩa gì đối với người đời sau nữa. Đây là một đoạn kinh mà các Tổ dùng để diệt Phật giáo. Các bạn có biết không?
Điều vô lý thứ hai là đức Phật, một người có đại trí tuệ, đại giác ngộ. Đại trí tuệ, đại giác ngộ sao lại ăn nấm độc để bệnh mà chết, thì trí tuệ đó đâu còn là trí tuệ nữa, nó là vô minh. Phải không các bạn?
Các bạn bảo rằng đó là nghiệp nhân quả đời trước của đức Phật, ngày nay đức Phật phải trả. Các bạn đừng nói vậy, nói như vậy là các bạn không hiểu đạo Phật. Đạo Phật là đạo chuyển nhân quả như trên đã nói. Do chuyển nhân quả mới làm chủ được sanh, già, bệnh, chết,
Chuyển nhân quả nên đức Phật mới có đầy đủ trí tuệ thấy biết loại mộc nhĩ ăn vào sẽ chết, cho nên mới cản ngăn không cho chúng Tăng ăn.
Tại sao đức Phật không bảo Cunda bỏ những thực phẩm có nấm độc này đừng cho mọi người ăn trong đó có cả đức Phật. Chỉ cần bảo như vậy thì đức Phật mới là người trí tuệ và thể hiện đạo đức nhân bản – nhân quả sống không làm khổ mình, khổ người và khổ cả hai.
Tu như Phật đã làm chủ được nhân quả, làm chủ được đau bệnh. Như đoạn kinh trên nói đức Phật đau gần như chết, thế mà đức Phật đẩy lui được bệnh khổ ra khỏi thân trong sức tỉnh giác chánh niệm của pháp môn Tứ Niệm Xứ. Làm chủ bệnh được như vậy, thế mà món thực phẩm nấu với loại nấm độc này không đổ bỏ đi được sao?
Người tu hành chưa chứng đạo đọc đến đoạn kinh này họ có nhiều nghi vấn nhưng không biết hỏi ai mà thôi. Nếu hỏi các Thầy Đại Thừa và các Thiền Sư Đông Độ thì họ bảo rằng: “Chẳng muội nhân quả” như Tổ Bách Trượng đã dạy:“Trong câu chuyện Bách Trượng dã hổ”.
Tóm lại, đoạn kinh này do các Tổ biên soạn viết ra để thêm vào trong kinh Đại Bát Niết Bàn thuộc kinh sách Nguyên Thủy để nói lên thuyết nhân quả định mệnh là của Phật giáo Đại Thừa. Nhưng thuyết nhân quả định mệnh này là của Bà La Môn Ấn Độ và của Thiền Tông Trung Hoa. Người tu hành dù có chứng đạo cũng không làm chủ nhân quả chỉ chẳng muôi nhân quả mà thôi.
Do không hiểu luật nhân quả thiện pháp chuyển ác pháp nên tưởng ra thuyết định mệnh nhân quả, khiến cho biết bao nhiêu người hiểu sai lạc.
Vì hiểu như vậy nên các Tổ mới biên soạn viết đoạn kinh trên đây để thêm vào làm cho sáng tỏ thuyết định mệnh, nhưng không ngờ vô tình lại phỉ báng Phật.
Tóm lại, đoạn kinh trên đây không phải Phật thuyết mà do các Tổ thuyết. Cho nên, đoạn kinh này hoàn toàn mâu thuẫn với tinh thần giáo pháp của Phật. Xin các bạn lưu ý mà hãy cảnh giác những đoạn kinh như vậy thường xen vào kinh sách Nguyên Thủy để dìm Phật giáo.

LÒNG TIN PHẢI CÓ CĂN CỨ


LỜI PHẬT DẠY
“Thưa tôn giả Gotama, câu chú thuật của các Tổ Bà La Môn, y cứ tiếng đồn, truyền thống và Thánh tạng Bà La Môn. Và ở đây các vị Bà La Môn chắc chắn đi đến kết luận: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều sai lầm”. Ở đây Gotama nói gì?
Nhưng này Bharadvaja, có một vị tôn sư nào giữa các Bà La Môn đã nói như sau: “Tôi biết việc này, tôi thấy việc này. Chỉ đây là sự thật ngoài ra đều là sai lầm”?
Thưa không, Tôn Giả Gotama!
Nhưng này Baharadvaja, có một tôn sư nào của các vị Bà La Môn, cho đến vị tôn sư của các vị tôn sư trở lui cho đến 7 đời. Các vị đại tôn sư đã nói như sau: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”?
Thưa không, Tôn Giả Gotama!
Như này Baharadvaja, có một tôn sư nào của các vị Bà La Môn, cho đến vị tôn sư của các vị tôn sư trở lui cho đến 7 đời. Các vị đại tôn sư đã nói như sau: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”?
Thưa không, Tôn Giả Gotama!
Nhưng này Baharadvaja thuở xưa những vị ẩn sĩ giữa các Bà La Môn, những các tác giả các chú thuật, những nhà tụng táng của chú thuật, đã hát đã nói lên, đọc lên giống như các vị trước đã làm như là Atthaka, Vamaka, Vamadeva, Vasrttha, Vessamitta, Yamataggi, Angirase, Bharadvdja, Kassapa, Bhagu, những vị ấy đã nói như sau: “Chỉ đây là sự thật ngoài ra đều là sai lầm”?
Thưa không, Tôn Giả Gotama.
Này Bharadvaja. Ta nghĩ rằng lời nói của các Bà La Môn, cũng giống như một chuỗi người mù, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cũng không thấy. Này Bharadvaja, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, có phải lòng tin của các vị Bà La Môn trở thành không căn cứ?”.
 (Kinh Trung Bộ tâp II trang 724,
 Kinh Canki)

CHÚ GIẢI:
Một thanh niên Bà La Môn tên là Kapathika hỏi đức Phật về một lòng tin vào Thánh tạng kinh điển chú thuật truyền thống từ xa xưa của Bà La Môn: “Tôi biết việc này, tôi thấy việc này. Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”. Và Tôn giả Gotama nói gì về vấn đề này?
Khi được hỏi câu này đức Phật trả lời bằng một câu hỏi khác ngay với những vị Bà La Môn hiện có mặt tại cuộc họp này.
Các vị có ai dám xác định rằng: “Tôi biết việc này, tôi thấy việc này, chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”.
Tất cả các vị Bà La Môn đều im lặng không ai dám trả lời, chỉ có Ba La Môn Bharadvaja là người có uy tín nhất trong các vị Bà La Môn nên đại diện trả lời.
- “Thưa không, Tôn giả Gotama”.
Ở đây các bạn nên hiểu câu hỏi của đức Phật rất quả quyết và mạnh mẽ về Thánh tạng Vệ Đà kinh của Bà La Môn đúng hoặc sai. Vì thế câu hỏi này có hai câu trả lời:
1-   xác định
2-   phủ định
Ở đây các bà La Môn không dám xác định mà trả lời phủ định vì trả lời phủ định là thành thật.
Nếu trả lời xác định: “Tôi biết việc này, tôi thấy việc này” thì đức Phật sẽ hỏi: “biết việc này như thế nào?”.
Về vấn đề kinh tạng Vệ Đà, đức Phật đã thấu suốt kinh tạng chú thuật này chỉ là thuyết ngôn ngữ suông, chưa có một vị nào chứng đắc chân lí ấy, nên làm sao biết đâu trả lời cho chính xác. Nếu trả lời biết thấy mà không chính xác rõ ràng thì đức Phật bác bỏ. Mục đích của kinh Vệ Đà là những lí luận mơ hồ, ảo tưởng không thực tế. Không cụ thể, nên làm sao lại dám bảo rằng: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”? Cho nên câu hỏi của đức Phật đơn giản nhưng trả lời rất khó khăn.
Ở đoạn kinh này chỉ có những người tu chứng đạo mới dám trả lời: “Tôi biết việc này tôi thấy việc này, chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”? Còn những người tu chưa chứng chân lí thì không bao giờ dám nói lời này.
Câu hỏi của đức Phật: “Có tôn sư vị Bà La Môn nào, dù cho đến 7 đời tôn sư và những vị Bà La Môn Tổ sư sáng tạo ra kinh sách Vệ Đà và chú thuật đã chứng được chân lí đó chưa?”.
Do thấu suốt toàn bộ Thánh kinh Vệ Đà là một loại kinh tưởng không thực tế. Mục đích mơ hồ, ảo tưởng. Một chân lí không rõ ràng như vậy thì làm gì có người tu chứng chân lí ấy? Do đó, đức Phật mới có câu hỏi: tôn sư bảy đời và những tôn sư sáng tạo ra kinh sách này có dám nói rằng: “Tôi biết việc này, tôi thấy việc này (tức là chứng đạo), chỉ đây là sự thật ngoài ra đều sai lầm?”.
Người hỏi câu này là người đã chứng chân lí mới dám hỏi. Nếu chưa chứng chân lí thì không dám hỏi câu này. Tại sao vậy? Vì có chứng chân lí mới biết chân lí. Biết chân lí mới dám hỏi người khác.
Nghiệm xét qua đoạn kinh trên các bạn nhận xét về Thầy Thông Lạc. Tại sao Thầy Thông Lạc dám nói kinh sách Đại Thừa và Thiền Đông Độ sai? Nếu Thầy Thông Lạc tu hành chưa chứng được chân lí giải thoát của đạo Phật thì Thầy có dám nói kinh sách Đại Thừa và Thiền Tông sai không? Nếu Thầy tu chưa chứng thì chỉ có thuyết giảng như các Thầy Đại Thừa mà thôi.
Vì thế, người tu chứng chân lí mới dám xác nhận pháp nào sai, pháp nào đúng. Ngày xưa đức Phật dám nói thẳng điều này, ngày nay Thầy Thông Lạc cũng vậy, khi tu chứng mới thấy được cái sai cái đúng
Trên hành tinh này loài người chỉ có bốn chân lí, bốn chân lí ấy phải chân thật, thực tế, cụ thể rõ ràng như chân lí của Phật giáo KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠOmới thật là chân lí, dù mọi người tu chưa chứng đạo nhưng vẫn nhận thấy biết rõ ràng cụ thể, không có mơ hồ, trừu tượng, ảo tưởng.
Bởi vậy, kinh sách Đại Thừa sai là vì chân lí của Đại Thừa mơ hồ, ảo tưởng, trừu tượng cũng giống như kinh sách Vệ Đà của Bà La Môn. Lấy câu hỏi của Phật trong kinh Canki thuộc kinh Trung Bộ tập II mà hỏi các vị Hoà Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng, Ni tu theo kinh sách Đại Thừa và Thiền Tông đã có ai chứng được chân lí giải thoát làm chủ 4 sự khổ đau; sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi chưa? Hay chỉ là chứng những chân lí ảo tưởng “Phật tánh, Bản lai, Cực Lạc Tây Phương” do chứng những chân lí ảo tưởng nên chẳng biết phương pháp nào chuyển bệnh, làm chủ sự sống chết rõ ràng, cụ thể v.v..
Phần đông đứng trước bệnh tật sống chết các Ngài chỉ khéo lí luận “Chẳng muội nhân quả” để che đậy và lừa đảo Phật tử. Càng tu hành thì càng phải trả nghiệp, dồn nghiệp v.v.. Chân lí của Phật là chân lí chuyển nghiệp, chứ đâu phải trả nghiệp, dồn nghiệp, nếu trả nghiệp, dồn nghiệp thì còn đâu là chân lí. Phải không các bạn?
Người chứng được chân lí của Phật giáo Nguyên Thủy đều thấy biết cái sai của Đại Thừa rất rõ ràng, nhờ có tu chứng như vậy mới dám nói: “Tôi biết việc này, tôi thấy việc này chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều sai lầm”.
Đức Phật đã chứng đạt chân lí giải thoát thật sự. Vì thế, mới có bài kinh Canki lưu lại cho đến ngày nay, Ngài chỉ cho mọi người thấy chân lí của loài người chỉ có Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế gồm có: khổ, tập, diệt, đạo, ngoài ra không còn có chân lí nào khác nữa.
Một lần nữa đức Phật đã xác định trong kinh Đại Bát Niết Bàn thuộc kinh Trường Bộ tập I, trang 659: “Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Chánh Đạo thời ở đấy không có Sa Môn thứ nhất, thứ nhì, thứ ba và thứ tư”. Câu nói này có nghĩa là trong giáo pháp nào không có Bát Chánh Đạo thời giáo pháp ấy không có tu chứng giải thoát sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi như đã nói trên, còn giáo pháp nào có Bát Chánh Đạo thì giáo pháp ấy có tu chứng.
Cho nên, những vị Tổ Sư Tăng, Ni biên soạn và viết ra kinh sách Đại Thừa, không có vị Tổ Sư nào dám bảo rằng: Ta chứng được chân lí như đức Phật? Họ chỉ khéo lí luận bằng câu “Người nào còn thấy mình tu chứng là chưa chứng”.Thường các Tổ hay dùng câu: “Vô sở đắc”. Đó là lối che đậy lừa đảo tín đồ dễ nhất.
Không có vị Tổ sư nào dám nói: “Tôi biết việc này, tôi thấy việc này, chỉ đây là sự thật ngoài ra đều là sai lầm”.
Đọc hết kinh sách Đại Thừa các bạn không bao giờ thấy có lời dạy như trong kinh sách Nguyên Thủy. Ở đây trong kinh sách Nguyên Thủy các bạn thường thấy đức Phật và các vị đệ tử của Phật khi tu chứng thường tuyên bố: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa”.
Kính thưa các bạn! Khi các bạn đọc kinh sách Đại Thừa có thấy vị Tổ sư nào dám to tiếng tuyên bố: “Tôi biết việc này, tôi thấy việc này, chỉ đây là sự thật ngoài ra đều là sai lầm” như trong kinh Nguyên Thủy này không?
Trong kinh sách Nguyên Thủy thường nhắc đến các vị chứng đạt chân lí tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ đều tuyên bố như Phật đã tuyên bố: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa”. Khi đã tuyên bố như vậy là biết mình đã tu xong. Người đã tu xong mới dám nói câu này: “Tôi biết việc này, tôi thấy việc này, chỉ đây là sự thật ngoài ra đều là sai lầm”. Người nói như vậy mới thật sự là đệ tử của Phật. Khi tu chưa chứng thì thấy lỗi mình không thấy lỗi người, nhưng khi đã tu chứng thì không hèn nhát, không sợ hãi, dám nói thẳng nói thật như đức Phật ngày xưa. Đúng là nói đúng, sai là nói sai; không tư vị, không xu nịnh ai cả, cũng chỉ vì một mục đích duy nhất là bảo tồn Chánh pháp của Phật.
Hầu hết đệ tử của đức Phật trong kinh Nguyên Thủy, khi tu chứng đạt chân lí đều nói những lời trên đây. Vị đệ tử cuối cùng của đức Phật, lúc Phật sắp nhập Niết Bàn, khi nghe thuyết giảng xong liền buông xả sạch các pháp thế gian, chứng đạt chân lí, Ông dõng dạc tuyên bố trước mọi người và đức Phật: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời khác nữa”.
Kính thưa các bạn! Từ khi có kinh sách Đại Thừa cho đến nay, các bạn chưa từng nghe các bậc tôn túc Tổ sư, từ người khởi sự biên soạn kinh sách Đại Thừa cho đến hiện nay các vị tôn túc Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni đều đã học và tu tập giáo pháp kiến giải chưa có vị nào dám tuyên bố. “Tôi đã tu chứng đạo, làm chủ sanh, già, bệnh, chết, chấm dứt luân hồi”. Chính vì con đường của Đại Thừa không thể tu chứng được, cho nên họ đâu dám nói: “Tôi biết việc này, tôi thấy việc này, chỉ đây là sự thật ngoài ra đều là sai lầm”.
Mục đích giải thoát của Đại Thừa mù mờ, ảo tưởng không rõ ràng, không cụ thể. Vì thế, các Thầy Đại Thừa giống như những người mù, một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy và người cuối cũng không thấy. Cho nên đâu dám bảo:“Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời khác nữa”. Riêng Phật giáo Nguyên Thủy khi chứng đạt đều nói câu này mà còn dám nói:“Tôi biết việc này, tôi thấy việc này, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là sai lầm”. Không thấy mục đích giải thoát cho nên lòng tin của các Thầy Đại Thừa trở thành không có căn cứ. Nhưng lại muốn che đậy những điều sai lầm này nên các Tổ sư Đại Thừa bảo như trên đã nói: “Ai thấy mình tu chứng đắc là chưa chứng đắc (vô sở đắc), chứng đắc không thấy mình đắc mới là chứng đắc”. Lời dạy này là một lối lý luận khéo léo gian xảo. Từ đó về sau các Thầy Đại Thừa thường dùng những từ này “vô sở đắc”. Khi nghe ai nói chứng đắc. Cho nên, người Phật tử khó phân biệt người tu sĩ của Phật giáo tu chứng hay chưa tu chứng, còn xét về giới luật thì các Ngài lý luận: “Hạnh trực thì đâu cần giữ giới”.Cho nên “Tự tại vô ngại đói ăn, khát uống, mệt ngủ”. Do lí luận này nên mới có Nam Tuyền sát miêu, Lâm Tế chém rắn, Thượng Sĩ Tuệ Trung ăn thịt uống rượu và Tế Điên Hòa Thượng ăn thịt chó uống rượu li bì.
Giáo pháp tu hành phải đặt trọn lòng tin có căn cứ rõ ràng, cụ thể, thực tế, chứ không thể chỉ có lòng tin suông được. Nếu chỉ có lòng tin suông là lòng tin mù quáng. Từ lâu quý Phật tử đã đặt trọn lòng tin vào kinh sách Đại Thừa không căn cứ vững chắc. Kinh Đại Thừa là một loại kinh sách có một mục đích giải thoát mơ hồ, trừu tượng, ảo tưởng, không thực tế, không cụ thể. Cho nên đức Phật dạy: “Lời nói của các Bà La Môn cũng giống như chuỗi người mù, người trước không thấy, người giữa không thấy, người cuối cùng cũng không thấy. Này Bharadvaja, Ngươi nghĩ thế nào? Cóphải lòng tin của các Bà La Môn trở thành không có căn cứ?”.
Xưa đức Phật chỉ vạch giáo pháp của Bà La Môn sai như vậy. Hiện giờ chúng tôi cũng vậy, vạch trần bộ mặt thật của Đại Thừa, từ bao lâu thế kỷ nay biết bao nhiêu thế hệ trẻ đã bị lừa, chẳng có ai tu hành ra gì. Chỉ toàn là tu danh, tu lợi, tu chùa to, Phật lớn, tu ăn tu ngủ. Thật là đau lòng. Phải không các bạn?
May ra chúng ta còn có những bài kinh Nguyên Thủy để so sánh, xác chứng kinh sách Đại Thừa là kinh sách của ngoại đạo lồng vào giáo pháp của đức Phật để lừa gạt tín đồ Phật giáo, biến tín đồ Phật giáo thành tín đồ ngoại đạo mê tín, lạc hậu, chỉ có tin một cách mù quáng, để làm tay sai cho những người đầu cơ tôn giáo làm giàu trên mồ hôi nước mắt của hàng ngàn tín đồ. Và thiêu hủy biết bao nhiêu tiền của do lòng mê tín của đồng bào cả nước cúng kính.




LỜI PHẬT DẠY
“Này Tỳ kheo, Trên đường tu học khi có danh, có lợi thì nên ẩn bóng”.

CHÚ GIẢI:
Lời dạy trên đây là đức Phật khuyên răn chúng ta tu học khi có danh có lợi thì nên ẩn bóng, có nghĩa là khi có Phật tử cung kính tôn trọng và cúng dường thì tâm dễ sanh đắm nhiễm thì nên ẩn bóng, có nghĩa nên tránh xa danh lợi, vì danh lợi dễ làm cho chúng ta ô nhiễm. Các bạn hãy lắng nghe đời sống viễn ly của đức Phật, tránh xa danh và lợi: Trong khi Ngài sống viễn ly như vậy, các Bà La Môn, gia chủ, cả thị dân và quốc dân bao vây xung quanh. Được bao vây xung quanh như vậy. Ngài không khởi lên nhiễm tâm, không rơi vào dục vọng, không khởi lên tham ái, không trở lui lại đời sống sung túc”. Đây, các bạn có nghe chăng? Có danh, có lợi như đức Phật, thế mà Ngài không đắm nhiễm, không trở lui lại đời sống sung túc, luôn luôn giữ hạnh ba y một bát, ngày ăn một bữa, sống không nhà cửa, không chùa to Phật lớn. Còn các Thầy Đại Thừa và Thiền Tông thì sao? Trở lui lại đời sống sung túc, ăn uống, ngủ nghỉ phi thời. Có đúng như vậy không các bạn?
Theo gương hạnh của Phật khi tu hành được đôi chút chúng ta có danh, có lợi thì nên tránh xa danh lợi tìm cách từ chối hoặc bằng cách ẩn bóng hoặc không nêu lên tên tuổi của mình, đừng để cho mọi người biết.
Trong các trường lớp tu hành chúng tôi đã thấy rất rõ ràng, người ta tu hành thời nay thường để tạo danh tạo lợi bằng cách làm quen với Phật tử, nhất là Phật tử giàu có, chứ không phải lo tu tập giải thoát.

Quán tâm vô thường

Tâm của con người thật sự là VÔ THƯỜNG, nếu chúng ta chịu khó quan sát thì sẽ thấy rất rõ. Tâm không bao giờ chịu đứng yên một chỗ mà hay lăng xăng khởi niệm, niệm này chưa xong liền khởi niệm khác. Do quan sát kỹ như vậy chúng ta mới thấy tâm là VÔ THƯỜNG thật. Do tính VÔ THƯỜNG của nó như vậy nên khi chưa làm chủ được tâm thì chúng ta chịu khổ đau với nó không phải là ít.Hằng ngày chúng ta tác ý câu này: “Quán tâm vô thường tôi biết tôi hít vô; quán tâm vô thường tôi biết tôi thở ra”.Khi tác ý xong thì chúng ta chịu khó quán xét TÂM VÔ THƯỜNG ở nhiều góc cạnh khác nhau thì chúng ta càng thấy rõ tính VÔ THƯỜNG của tâm. Do quán xét như vậy chúng ta sẽ không bị tâm mình lừa gạt mình và không bị tâm mình làm cho mình khổ đau nữa. Người ở ngoài đời cũng như ở các tôn giáo khác trong đó có các hệ phái Phật giáo nước ngoài như Đại thừa, Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Pháp Hoa Tông, Mật Tông v.v... đều cho tâm này là linh hồn, tâm này là Phật tánh, là Tánh Không, là Chơn Như, là trí tuệ Bát Nhã, là bản thể của vạn hữu v.v... Đó là một sự hiểu biết lầm lạc bằng ảo tưởng, tâm là một xứ trong pháp môn TỨ NIỆM XỨ: THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP.Nếu quán thấy TÂM VÔ THƯỜNG thì cũng thấy THỌ VÔ THƯỜNG, thì cũng thấy THÂN VÔ THƯỜNG, thì cũng thấy CÁC PHÁP VÔ THƯỜNG. Như vậy toàn bộ TÂM, THỌ, THÂN, PHÁP đều VÔ THƯỜNG, mà đã VÔ THƯỜNG thì đó là pháp khổ đau. Như vậy toàn bộ THÂN TÂM của chúng ta là pháp khổ đau. Khi xét thấu như vậy thì lời dạy của đức Phật THÂN NGŨ UẨN của con người là một khối VÔ THƯỜNG, KHỔ ĐAU. Trong thân người không có vật gì là thường còn bất biến. Thế mà kinh sách phát triển và Thiền Tông cho rằng trong thân con người còn có một vật BẤT SINH, BẤT DIỆT, ý này thật là sai và đi ngược lại với lời Phật.Cho nên hằng ngày quán TÂM VÔ THƯỜNG là để chúng ta không bị kiến chấp LINH HỒN, PHẬT TÁNH lừa đảo mình. Từ những truyền thống LINH HỒN lâu đời của ông bà và ngoại đạo tà giáo đã ra công xây dựng để lại tạo nên một cuộc sống mê tín cầu cúng.Nhờ luôn luôn quán tâm vô thường nên từng tâm niệm sanh khởi không làm chúng ta bị dính mắc và đắm chìm trong dục lạc thế gian. Đây là pháp môn tu tập Định Niệm Hơi Thở câu hữu với THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP.Có một số người giàu tưởng giải, chia tâm này ra làm nhiều phần gọi là duy thức học. Duy thức học để phân chia tâm mà lý luận chơi, chứ chẳng mangđến sự lợi ích thiết thực cho cuộc sống của loài người. Cho nên DUY THỨC HỌC chỉ là những học giả biên soạn để tranh luận, chớ sách này chẳng có ích lợi gì cho sự tu tập giải thoát.Nhưng ngược lại Định Niệm Hơi Thở sẽ giúp quý vị giải trừ các ác pháp và các chướng ngại nơi thân tâm của quý vị, khiến cho thân tâm quý vị sống được AN TRÚ, AN TỊNH, nhờ đó mà khổ đau không còn nữa.Chính tâm AN TRÚ, AN TỊNH nên thân tâm lúc nào cũng THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ. Đây là pháp môn tu tập Định Niệm Hơi Thở kết hợp với THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP. Tiếng nói của hoà thượng Minh Châu về Phật GiáoKính thưa quý Phật tử! Chúng tôi là những hành giả, nhà tu hành, chứ không phải là học giả, nhà nghiên cứu, cho nên khi nói về Phật giáo là nói về kinh nghiệm tu tập của mình, còn nhà học giả khi nói về Phật giáo là nói về sự nghiên cứu của mình.Những gì chúng tôi đã nói ở trên là những kinh nghiệm tu hành của chúng tôi mà quý Phật tử đã được đọc. Vậy bây giờ chúng tôi xin mời quý Phật tử hãy đọc lời nói của Hòa Thượng Minh Châu, một học giả Phật Giáo Việt Nam danh tiếng nhất trong thời đại này. Ngài là người đầu tiên dịch tạng kinh Pàli ra ngôn ngữ Việt Nam.Trong tập sách“Chánh Pháp và Hạnh Phúc” của Hòa Thượng Minh Châu được Nhà Xuất Bản Tôn Giáo cho phép in ấn và nộp lưu chiểu tháng 6 năm 2001.Đây Hòa Thượng Minh Châu viết:“Khi chúng tôi bắt đầu dịch kinh Pàli ra tiếng Việt, có người bảo là một phận sự thuần chất tôn giáo, không dính gì Đại học. Có người khắt khe hơn lại chỉ trích: “Đang làm viện trưởng một viện Đại học mà dịch kinh là sẽ có hại cho trách nhiệm điều khiển một Đại học”. Chúng tôi muốn chứng minh rằng dịch kinh như chúng tôi đang làm cũng là một dịch vụ Đại học, không những không có xung khắc mâu thuẫn, mà chính tiêu biễu tốt đẹp cho thâu hóa kiến thức và văn hóa nhân loại, và phát huy tinh thần cầu tiến, nghiên cứu sáng tạo của Đại học.Trước hết, dịch kinh như là một phận sự chính của những vị tu hành đi qua Ấn Độ tu học. Như ngài Pháp Hiển người Trung hoa, đi qua Ấn Độ và Tích Lan vào thế kỷ thứ tư để lại một số dịch phẩm quan trọng có thể dịch từ chữ Sanskrit, Prakrit, Pàli qua chữ Hán. Ngài Huyền Trang, một nhà chiêm bái Trung Hoa thế kỷ thứ 7, đã du học trên 17 năm, và khi về nước đã dịch tất cả là 77 bộ kinh từ chữ Phạn ra chữ Hán. Rồi đến ngài Nghĩa Tịnh người Trung Hoa vào thế kỷ thứ 8 cũng đi qua du học tại Ấn Độ với một nhà sư Việt Nam, ngài Đại Thặng Đăng và khi về dịch từ tiếng Phạn qua chữ Hán. Còn các vị sư Ấn Độ qua Việt Nam và qua Trung Hoa cũng dịch kinh từ tiếng Phạn qua tiếng Trung Hoa, và những bậc dịch sư có danh tiếng như ngài Sanghadeva (Tăng già đề bà), đã dịch tập Trung A Hàm. Ngài Cưu Ma La Thập đã dịch tập Ma ha bát nhã, Diệu pháp liên hoa vv...Chính công trình của quý vị dịch sư này đã xây dựng nên Tam Tạng Kinh Trung Hoa, một dịch Tạng phong phú nhất trong các dịch Tạng. Thật sự vấn đề dịch kinh điển là một công trình văn hóa hơn là một công trình tôn giáo, và ba tạng giáo điển Phật giáo không những phong phú nhất về lượng và cũng dồi dào nhất về những uyên thâm triết lí và tinh vi nhất về những phương pháp tu hành. Những danh từ “Dhammacakkam pavatteti” (chuyển pháp luân) “Dhammam deseti” (thuyết pháp) mang nặng tính cách trao truyền chân lý, truyền thừa pháp môn và vì vậy phiên dịch kinh điển là một dịch vụ thuần túy văn hóa và rất phù hợp với công tác Đại học. Khi chúng tôi dịch từ tiếng Pàli ra tiếng Việt là chúng tôi muốn giới thiệu ba Tạng Pàli cho các Phật tử và học giả Việt Nam, một Tam Tạng kinh điển rất phong phú, rất gần với lời dạy nguyên thủy của đức Phật, lại được phổ biến rất rộng rãi khắp năm châu, qua công trình dịch thuật của hội Pàli Text Society, London. Chúng tôi lại đặc biệt dịch kinh Tạng, là một trong ba Tạng được xem là ghi chép trung thành và thuần túy nhất những lời dạy nguyên thủy của đức Phật. Từ trước cho đến nay, tuy có một số kinh điển được dịch từ chữ Pàli ra tiếng Việt, nhưng phần lớn là trích dịch, và các kinh được dịch phần lớn dù để tụng đọc trong các nghi lễ nên có tính cách tôn giáo nhiều hơn, ở nơi đây chúng tôi cố gắng dịch trọn vẹn, không bỏ qua một kinh nào, và dịch có in nguyên bản Pàli đối chiếu với dụng ý để người học có thể tự mình tìm hiểu nguyên nghĩa của từng chữ, từng câu, khỏi rơi vào những giải thích hay lệch lạc của người dịch. Kinh Pàli được bắt đầu giới thiệu cho người Việt Nam và người Việt Nam lần đầu tiên được đọc thẳng kinh tạng Pàli bằng tiếng Việt có nguyên bản Pàli đối chiếu. Không những chúng tôi giới thiệu kinh tạng Pàli cho các Phật tử và học giả Việt Nam tụng đọc, chúng tôi còn cống hiến cho các học giả Việt Nam những tài liệu nghiên cứu và tham khảo để viết những tham luận về Phật giáo. Từ trước các học giả có viết về Phật giáo chỉ có thể trích dẫn các sách do các người ngoại quốc viết về Phật giáo, khó có thể tham chiếu từ tạng Pàli hay tạng Hán, và như vậy có thể hiểu lầm và sai lạc. Nay các học giả có thể trích dẫn nơi bản dịch từ văn Pàli ra tiếng Việt của chúng tôi, lại có thêm nguyên văn Pàli đối chiếu. Như vậy sự trích dẫn được chính xác và khỏi lệch lạc.Khi chúng tôi giới thiệu kinh tạng Pàli với các bản dịch năm bộ Nikàya (Trường bộ kinh, Trung Bộ kinh, Tương Ưng Bộ kinh, Tăng Nhất Bộ kinh, Tiểu Bộ Kinh)), chúng tôi gián tiếp giới thiệu bốn bộ A Hàm là Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tạp A Hàm, Tăng Nhất A Hàm và vô số kinh tương đương khác thuộc nhiều học pháp khác mà từ trước đến nay, rất ít người tham khảo. Trường A hàm được Hoà Thượng Thích Thiện Siêu dịch ra Việt văn nhưng không được đầy đủ. Trung A Hàm được Hoà Thượng Thích Thanh Từ và Đại Đức Tuệ Sĩ dịch ra Việt văn nhưng chỉ dịch một số kinh và cũng chưa in thành sách. Bản chữ Hán tuy có học tại các Phật học Viện, nhưng cũng chỉ trích học. Bản chữ Hán được dịch vào thế kỷ thứ 2 sau kỷ nguyên nên rất xưa và khó hiểu và ít được có người tham khảo. Chúng tôi xin kể sơ một ít danh từ được ngài Sanghade đã dịch từ tập Màdhỳamàgama (Trung A Hàm) ra chữ Hán. Như chữ Vedanà dịch là giác, sau dịch là thọ. Savitakka, Savicàra, Ngài dịch là hữu giác, hữu quán, về sau dịch là hữu tầm, hữu tứ. Phassa, Ngài dịch là cánh lạc, về sau dịch là xúc. Chúng tôi hy vọng sau bản Pàli được trích dịch thời nhiều đoạn A Hàm, tương đương được sáng nghĩa hơn, và sẽ có nhiều vị tiếp tục dịch các bộ A Hàm một cách trọn vẹn và đầy đủ, bốn bộ A Hàm và một số rất nhiều bài kinh chưa được phân loại là những tài liệu rất quý giá đề cập đến các học phái, mà nay hình như chỉ có ông André Bareau người Pháp nghiên cứu. Chúng tôi hy vọng trong một thời gian gần đây sẽ có một số học giả nghiên cứu đến những tài liệu này và sẽ khám phá rất nhiều tài liệu Phật giáo mới lạ và hy hữu. Cho nên khi dịch các tài liệu Pàli, chúng tôi hy vọng mở đường cho nhiều nghiên cứu khác đặt nặng vào bốn bộ A Hàm và các kinh điển khác rãi rác trong Tam Tạng Pàli. Chúng tôi gián tiếp giới thiệu kinh Tạng A Hàm và tương đương, và sự đóng góp này mang nặng tính chất vừa văn hóa, vừa Đại học.Cho dịch và cho in các bản kinh Pàli, chúng tôi không mong muốn gì hơn là để các Phật tử, các học giả, các sinh viên được đọc thẳng vào kinh điển thật sự nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, và sự tự mình tìm hiểu những lời dạy thật sự của đức Phật, khỏi phải qua những lập trường của các bộ phái. Nhất là khỏi phải qua những xuyên tạc của những học giả và những Phật tử muốn giải thích đạo Phật theo dục vọng và tà kiến của mình. Muốn chạy theo dục vọng, thì giải thích kinh điển một cách dễ hiểu rằng đạo Phật chấp nhận và tha thứ dục vọng. Muốn giết người và muốn bênh vực kẻ giết người, đạo Phật được giải thích như là có thể tha thứ và chấp nhận sự giết người. Muốn chạy theo tà giáo và tà kiến, lại giải thích đạo Phật viên dung vô ngại, chấp nhận mọi tà kiến, mọi tà thuyết. Tà kiến nào, tà thuyết nào cũng là Phật giáo được hết! Muốn tránh những tai nạn trên, cần nhất là phổ biến những kinh điển thật sự nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, để Phật tử được đọc thẳng ngay kinh Phật, khỏi qua một ống kính màu nào. Đạo Phậtcần những cá nhân Phật tử biết suy tư, biết phân tích, biết tự tìm hiểu, rồi xác nhận sự hiểu biết của mình, ngang qua sự hành trì, kinh nghiệm cá nhân. Đạo Phật không cần đến những đoàn người theo đạo Phật, theo một cách ồ ạt mù quáng, theo một cách thụ động nhắm mắt, hay tự mình bóp méo xuyên tạc đạo Phật theo tà kiến dục vọng của mình. Chính kinh Đại Bát Niết Bàn, trang 124- 126, tập III có ghi rằng, dù chúng ta có nghe vị Tỳ kheo nào nói tự thân nghe đức Phật, tự thân nghe các vị Thượng Tọa, Thủ chúng vv... nói như vậy là pháp, như vậy là luật, đức Phật khuyên cũng không được tán thán, đã kích, chấp thuận hay từ bỏ ngay, mà phải so sánh với kinh, đối chiếu với luật, có phù hợp mới được chấp nhận, không phù hợp thời phải từ bỏ. Đạo Phật đòi hỏi sự nhận xét, tìm hiểu suy tư cá nhân rất nhiều. Nhưng chúng ta chỉ có thể nhận xét, tìm hiểu suy tư. Khi chúng ta được đọc những lời dạy nguyên thủy nhất hay gần nguyên thủy nhất của đức Phật.Chúng tôi dịch kinh Pàli, không vì mục đích muốn ủng hộ hay không muốn ủng hộ một học phái nào, một lập trường nào. Mục đích của chúng tôi chỉ muốn giới thiệu. Những kinh điển có thể được xem là nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, để người đọc có thể tìm hiểu lời dạy chân chính của đức Phật, khỏi qua ống kính của một học phái nào, dù Ấn Độ, Trung Hoa, hay Việt Nam. Chúng tôi cũng không có trách nhiệm nêu lên cho độc giả rõ, đoạn nào là nguyên thủy, đoạn nào không phải nguyên thủy. Chỉ có người đọc, sao khi tự mình đọc, tự mình tìm hiểu, tự mình suy tư, tự mình quan sát, tự mình chứng nghiệm trên bản thân, mới có thể tự mình hiểu và thấy đoạn nào là thật sự nguyên thủy. Trách nhiệm tìm hiểu, chứng nghiệm cá nhân là trách nhiệm của người đọc, không phải của người dịch, vì đạo Phật là đạo đến để mà thấy, chứ không phải Đạo đến để nhờ người thấy hộ. Đạo của người có mắt (Cakkhumato), không phải Đạo của người nhắm mắt, Đạo của người thấy, của người biết (Passato Ajànato), không phải là Đạo của người không thấy, không biết (Apassato Ajànato). Nên chỉ có người đọc mới có thể tự mình thấy, tự mình hiểu và tự mình chứng nghiệm.Thật sự chúng tôi chỉ mong rằng quý vị đọc thật kỹ và suy tư thật chín chắn, những đoạn mà chúng tôi phiên dịch rồi quý vị hãy tự hỏi, những đoạn ấy có phải là những đoạn “Tiểu thừa” dành riêng cho những vị có tiểu tâm, chỉ tư lợi không biết vị tha, chỉ biết tự giác không biết giác tha. Như chúng tôi đã phân tích trong lời giới thiệu bản dịch tập “Đại Thừa Và Sự Liên Hệ Với Tiểu Thừa” chúng ta đừng có mắc bẫy các vị Bà La Môn Ấn Độ giáo tìm cách gán cho chữ“Tiểu thừa” để loại ra ngoài những lời Phật dạy căn bản, như một số Phật tử Đại thừa đã bị mê hoặc, không dám đọc những lời Phật, vì bị gán nhãn hiệu Tiểu thừa. Bên phái Nam tông, tuy tôn thờ Tam Tạng Pàli, nhưng một số Phật tử cũng rơi vào nạn tương tự, là chỉ học luật tạng và A Ty Đàm tạng, bỏ rơi Kinh tạng Pàli, vì xem A Ty Đàm tạng mới đề cập đến Đệ Nhất Nghĩa Đế, còn kinh tạng chỉ bàn đến Tục Đế mà thôi. Đây cũng là một lầm lạc hết sức ngây thơ và nguy hiểm. Vì A Ty Đàm phát xuất từ kinh tạng, và bỏ để tìm ngọn thì không khác gì kẻ đi tìm lõi cây, mà chỉ mang về cành lá. Thật sự đạo Phật đâu có phân biệt Tiểu thừa và Đại Thừa, đâu có chia đôi Chân đế Tục đế. Những sự phân chia này chỉ là hậu tác phẩm, hoặc của giáo sĩ Bà la Môn mang danh Phật tử muốn loại bỏ những gì tinh túy nhất của đạo Phật không cho Phật tử học và tu, hay của một số đệ tử Phật muốn làm Tổ sư một giáo phái, nên đề xướng các chủ thuyết lấn át những lời dạy nguyên thủy của đức Phật.Thật sự chúng ta chỉ có một trách nhiệm tìm đọc và tìm hiểu những lời dạy thật sự là những lời dạy của đức Phật, và vì trách nhiệm ấy mà chúng tôi đang cố gắng phiên dịch kinh tạng Pàli ra Việt ngữ. Chúng ta chỉ cần đọc, cần suy tư chín chắn và rồi chính chúng ta tự ý thức đâu là những lời dạy trung thực của đức Bổn Sư chúng ta.Đây là sự đóng góp của Viện Đại Học Vạn Hạnh vào nền văn hóa Phật giáo bằng cách giới thiệu một cách đầy đủ và trung thực những tài liệu tiếng Việt quý báu nhất về kinh tạng Pàli, vừa cho các Phật tử tìm hiểu, thực hành và thực chứng, vừa giúp các học giả Phật giáo có những tài liệu tham khảo khá đầy đủ và trung thực. Viện Đại Học Vạn Hạnh là môi trường đầu tiên nếu không phải là độc nhất, đã cố gắng giới thiệu kinh tạng Pàli cho Phật tử Việt Nam, học giả Việt Nam, dân chúng Việt Nam. Viện Đại Học Vạn Hạnh cũng đi tiên phong mở đường cho một cao trào nghiên cứu đi thẳng vào lời dạy nguyên thủy của đức Phật, khỏi bị những lệch lạc của học phái hay của Bà La Môn giáo. Điều quan trọng hơn nữa, Viện Đại Học Vạn Hạnh khuyến khích các học giả và các Phật tử, tự mình mở mắt tìm hiểu, suy tư đối chiếu, không có nhắm mắt tin theo, không có thụ động chấp nhận, trái lại phải biết thâu hóa, so sánh, để làm sáng tỏ những lời dạy nguyên thủy của đức Phật”.Kính thưa quý Phật tử! Khi đọc xong tiếng nói của Hoà Thượng Thích Minh Châu, một vị Hoà Thượng đáng tôn kính nhất của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam hiện nay, Người đã dám chỉ thẳng nói cái sai của Phật giáo hiện giờ để cảnh giác mọi người thì quý Phật tử hãy tự suy ngẫm rồi chọn cho mình một con đường đúng chánh pháp của Phật, để xây dựng cho mình một đời sống đạo đức nhân bản – nhân quả, không làm khổ mình khổ người. Đó là điều ước nguyện của chúng tôi biên soạn tập sách này. Mong sao mọi người trên hành tinh này sẽ sống và sống được như vậy thì chúng tôi mãn nguyện.Điều ước nguyện cuối cùng của chúng tôi là mọi người nên sống cho chính mình. Vậy sống cho chính mình là sống như thế nào?Sống cho chính mình là sống có phương pháp hẳn hoi. Hằng ngày phải sống với tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự, muốn sống được với tâm này thì phải dùng phương pháp tác ý. Tóm lại cách thức tu tập hằng ngày như sau:Khi chúng ta đi, đứng, nằm hay ngồi đều nên tác ý giữ gìn tâm BẤT ĐỘNG.- Thứ nhất phải nhận ra tâm Tỉnh Thức hoàn toàn, không có hôn trầm, thùy miên, vô ký.- Thứ hai phải nhận ra được tâm Bất Động.- Thứ ba phải thiện xảo trong pháp như lý tác ý.Đến đây chúng tôi xin chấm dứt buổi nói chuyện hôm nay, gửi lời thăm và chúc cả gia đình của quí vị sức khỏe dồi dào, thân tâm thường vui vẻ.

46 nhận xét:

  1. Giờ mới biết Thích Thông Lạc là ai, cả chư Tổ còn dám nói thì thôi luôn rồi, học Phật thì nên hiểu Phật chứ học Phật mà toàn đi so sánh trong khi đó 2 Thừa đều cùng mục đích giải thoát.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Bạn có hiểu rõ hai chữ "giải thoát" của Phật giáo là gì không ? Bạn có hiểu lịch sử Phật giáo không ? Ngày nay làm gì còn khái niệm 2 thừa như Bạn nêu nữa. Không nghiên cứu cẩn thận mà đã buông lời chê bai bậc Thánh thì bạn sẽ giải thoát về đâu đây ?

      Xóa
    2. thich thong lac va thich nhat tu. haizz. dung la bo tay

      Xóa
    3. "cả chư Tổ" thì sao chứ?
      Hãy sử dụng trí tuệ sẵn có của bạn mà quán xét, bạn xem lại kinh Kalama đi. Kẻ nào để cho ý thức hệ, tín ngưỡng, định kiến văn hoá ... đè bẹp lý trí và mất khả năng quán xét thiện/ác, kẻ ấy bị gọi là mê tín và ngu si vậy!
      Thầy Thích Thông Lạc đã nói lên sự thật không thể chối cãi. Một sự thật có ích cho người Phật tử còn mê lầm, tới ngang đó, Thầy "là ai" đâu có quan trọng. Là A-La-Hán? Là Phật? Là Thánh? Là Tổ? ... để làm cái quái gì chứ? Nếu là cái "XXX" gì đó mà không mang lại cho con người hiểu biết chân chính và nền tảng đạo đức nhân bản, thí vứt đi nhá!

      Xóa
  2. A la hán mà tự xưng là a la hán thì đều này khá nghi ngờ. Hơn nữa khi xưa đức Phật bảo nếu A La Hán nào để cho người khác bik được thì phải nhập Niết Bàn ngay lập tức. Huống hồ còn ở đây vỗ ngực xưng tên dương dương tự đắc phỉ báng đại thừa, tạng báu của Như Lai, khác nào kẻ phun trời ướt mặt, đoạn dứt chủng tử Phật của mình. Đây là hạng khi sư diệt tổ, phá chủng tộc nhà Phật, ko hiểu ko rõ cạn sâu, ếch ngồi đáy giếng. Chỉ thấy cái bóng hư vọng của tâm thức mà tưởng là nó có thực rồi đem cái tâm diệt ra diệt tâm, lấy hư vọng trừ vọng như đá đè cỏ. Rồi công phu đoạn diệt lâu ngày thành tựu, nên thọ tưởng hư vọng bị dứt diệt, đúc kết thành khối đinh. Tuy niệm niệm vi tế đã dừng chảy nhưng thức vi tế vẫn còn, tức là pháp tịch diệt chưa dứt, nên nhân vô ngã mà pháp chưa vô ngã. Nếu là hàng thượng căn ngay đo tiến lên thì vị lai sẽ vào quả vị Phật, nếu ngay đó mà dừng lại thì gọi đó là độn căn A La Hán. Cho nên khi xưa Phật rất hay quở trách hàng Thanh Văn, chỉ thấy tứ điên mà chưa thấy bát đảo. Thấy tâm lăng xăng hư vọng lại tưởng đó là bản chất của tâm. Như khi nhập định diệt thọ tưởng, chứng a la hán, niệm tưởng đều dứt diệt thì lấy cái gì mà biết là đã chứng. Trong khi thực tế các A La Hán vẫn đều hay biết, bảo đó là ý thức thì chưa phải a la hán. Vậy cái đó là gì vậy? Cớ sao lại có kẻ chấp bóng quên đầu nhận giặc làm cha?

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Bạn nói: "đức Phật bảo nếu A La Hán nào để cho người khác bik được thì phải nhập Niết Bàn ngay lập tức". Bạn căn cứ vào đâu mà nói như thế ? Bạn có nghiên cứu kinh Phật không và có phân biệt được đâu là giả, là thật không ?. Tại sao phải nhập niết bàn khi đã chứng quả alahan ?. Bạn có biết ngài Xá lợi Phất, Ngài Anan tại thế tới bao nhiêu tuổi sau khi đắc quả alahan không ? Bạn không nghiên cứu tường tận đã vội buông lời chê trách các vị thánh tăng mà không thấy tâm mình tội lỗi sao ? Thật tiếc cho Bạn.

      Xóa
    2. PHẬT A DI ĐÀ VÀ THẾ GIỚI TẬY PHƯƠNG CỰC LẠC LÀ CÓ THẬT CHỨ KHÔNG PHẢI NHƯ THẦY NÓI, CÁC BẠN PHẢI TIN NHẬN:
      1. TIN LỜI DẠY CỦA ĐỨC THÍCH CA MÂU NI
      2. TIN VÀO NGUYỆN LỰC CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ
      3. TIN VÀO LỜI KHEN NGỢI VÀ XƯNG TÁN CỦA CHƯ PHẬT
      NGOÀI THẾ GIỚI TA BÀ NÀY CÒN CÓ NHIỀU CẢNH GIỚI KHÁC MÀ NGƯỜI PHÀM NHƯ CHÚNG TA KHÔNG THẤT ĐƯỢC
      *ĐỜI MẠT PHÁP NÀY KHÔNG CÓ PHÁP MÔN NÀO THOÁT LIỄU SANH TỬ ĐƯỢC, CHỈ CÓ NƯƠNG THEO PHÁP MÔN NIỆM PHẬT MÀ ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI ĐÃ CHỈ DẠY VÌ VẬY CÁC BẠN PHẢI TIN NHẬN, VÌ TRONG KINH A DI ĐÀ CÓ NÓI: "NGƯỜI CÓ THIỆN CĂN PHƯỚC ĐỨC NHÂN DUYÊN MỚI CÓ THỂ SANH VỀ ĐÓ" VÌ VẬY NGƯỜI CÓ THIỆN CĂN PHƯỚC ĐỨC MỚI CÓ THỂ TIN NHẬN
      * KHI PHẬT THÍCH CA MÂU NI CÒN TẠI THẾ, MA VƯƠNG BA TUẦN ĐẾN GẶP PHẬT VÀ BẢO VỚI NGÀI: "TÔI MUỐN PHÁ HOẠI PHẬT PHÁP CỦA NGÀI VÌ PHẬT PHÁP MUỐN ĐỘ CHÚNG SANH RA KHỎI BA CÕI, TÔI KHÔNG MUỐN HỌ RA KHỎI BA CÕI, TÔI KHÔNG THÍCH VẬY, TÔI MUỐN PHÁ HOẠI PHẬT PHÁP"
      - ĐỨC PHẬT NÓI VỚI MA VƯƠNG: "PHÁP CỦA TA LÀ CHÁNH PHÁP, CHÁNH PHÁP KHÔNG CÓ MỘT PHƯƠNG PHÁP NÀO CÓ THỂ PHÁ HOẠI"
      - MA VƯƠNG NÓI: "ĐỢI ĐẾN THỜI KỲ MẠT PHÁP, PHÁP CỦA NGÀI SUY YẾU,TA PHÁI CON CHÁU CỦA TA CẠO TÓC, XUẤT GIA, MẶC ÁO CÀ SA TỚI PHÁ HOẠI PHẬT PHÁP CỦA NGÀI"
      - ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI NGHE XONG KHÔNG NÓI LỜI NÀO, CHỈ ĐÀNH RƠI LỆ MÀ THÔI
      * ĐIỀU NÀY CHÚNG TA NÊN GHI NHỚ VÀ CẢNH GIÁC, THẬT CẢNH GIÁC
      ĐỜI MẠT PHÁP NÀY ÁC NHIỀU HƠN THIỆN, GẶP ĐƯỢC BẬC MINH SƯ RẤT KHÓ, CHỈ CÓ TIN NHẬN VÀO LỜI DẠY CỦA BỔN SƯ THÍCH CA NƯƠNG THEO PHÁP MÔN NIỆM PHẬT, NƯƠNG VÀO NGUYỆN LỰC, THA LỰC CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ THÌ MỚI THOÁT LIỄU SANH TỬ
      * HIỆN CÁC VỊ TỔ CỦA CHÚNG TA CŨNG ĐÃ BIẾT TRƯỚC NGÀY GIỜ RA ĐI, TỰ TẠI VÃNG SANH NHƯ ĐẠI SƯ ẤN QUANG, HT QUẢNG KHÂM, HT TUYÊN HÓA, HT HẢI HIỀN,...
      * LÀ CON CỦA PHẬT CÁC BẠN PHẢI TIN NHẬN LỜI DẠY CỦA ĐỨC BỔN SƯ LÀ KHÔNG DỐI
      DÙ AI NÓI GÌ, MÌNH VẪN TIN LỜI DẠY CỦA ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA VÀ MÌNH TIN CHẮC VỚI CÁC BẠN RẰNG CHẮC CHẮN CÓ THẾ GIỚI TẬY PHƯƠNG CỰC LẠC VÀ CÓ ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ HIỆN ĐANG THUYẾT PHÁP, CÒN NGHE NGƯỜI NÀY NÓI THẾ NÀY, NGHE NGƯỜI KHÁC NÓI THẾ LÀ TÙY CÁC BẠN, MÌNH VẪN ĐÚNG PHÁP MÔN NIỆM PHẬT MÀ THỰC HÀNH, ĂN CHAY, GIỮ GIỚI, LÀM THEO LỜI PHẬT DẠY KHÔNG THỐI CHUYỂN. A DID A92 PHẬT

      Xóa
  3. Nếu chỉ dựa vào kinh điển mà đem cái hiểu của thế gian thì chỉ toàn là lầm. Phải nên đem cái thấy biết trong việc thực hành mà tương ưng thì mới rõ biết. Đạo hữu chẳng biết, Xá lợi Phất cùng các bậc thánh tăng trước ko nhập Niết Bàn mà được biết là vì khi đó Phật chưa chế ra. Về sau càng có nhiều người chứng A La Hán, rồi lại phô diễn thần thông quá nhiều nên Phật lo sợ hàng sơ cơ thấy đó mà chấp rằng cứ có thần thông là A La Hán, ắt rơi vào đường tà. Hơn nữa quý vị nên biết nếu tâm đã chánh thì các pháp đều là chánh, nếu đã thấm nhuần Phật Pháp thì thấy cái gì cũng là Phật Pháp, cái phi pháp mà cũng thấy thành Phật Pháp, vậy mà có người thấy cái trong Phật Pháp lại thấy thành cái phi pháp thì đủ biết tâm người đó thế nào rồi!
    Tôi xin nhắc lại một lời dạy của đức Phật (lâu quá quên rồi chỉ nói đại ý):
    "Đừng tin vào những điều, dù điều đó được các bậc tôn đức, trưởng lão, hay những điều truyền từ ngàn xưa để lại... mà chỉ khi nào chúng ta quán xét kỹ qua việc thực hành và thấy rằng điều đó có ích cho bản thân và tất cả chúng sanh thì hãy thực hành theo."
    Quý vị có thể kiểm tra lại trong bộ kinh Kalama, lời dạy nổi tiếng này chắc hẳn ai cũng biết...

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Mình có đọc thuộc lòng câu này và xin trả lời bạn: Này các người Kalama,điều ta vừa nói với các ngươi: các người kalama, các ngươi đừng tin vì nghe nói lại,đừng tin vì theo phong tục, đừng tin vì nghe tin đồn, đừng tin vì kinh đinh điển truyền tụng, đừng tin vì lý luận, đừng tin vì công thức, đừng tin có suy tư đầy đủ về những dự kiện, đừng tin vì có thẩm sát và chấp nhận lý thuyết, đừng tin vì thích hợp, đừng tin vì Sa môn là thầy mình. Nhưng này các người KaLama, khi nào các ngươi tự biết rõ,các pháp ấy là thiện, các pháp ấy không đáng chê, các pháp ấy được người trí khen ngợi, các pháp ấy nếu được thực hiện và chấp nhận thì sẽ dẫ đến hạnh phúc an vui, thời các người hãy đạt đến an trú.

      Xóa
    2. Này các người Kalama, đương nhiên là phải nghi ngờ, đương nhiên là phải phân vân. Đối với những điều đáng nghi ngờ và phân vân.
      ,đừng tin vì theo phong tục, đừng tin vì nghe tin đồn, đừng tin vì kinh đinh điển truyền tụng, đừng tin vì lý luận, đừng tin vì công thức, đừng tin có suy tư đầy đủ về những dự kiện, đừng tin vì có thẩm sát và chấp nhận lý thuyết, đừng tin vì thích hợp, đừng tin vì Sa môn là thầy mình.
      Nhưng này các người Kalama,khi nào các ngươi tự biết rõ:Các pháp ấy là bất thiện,các pháp ấy là đáng chê, các pháp ấy bị người trí chỉ trích,các pháp ấy nếu được thực hiện thì sẽ dẫn đến bất hạnh khổ đau, thời các người hãy từ bỏ chúng đi.

      Xóa
  4. Nặc danh viết: "...nếu tâm đã chánh thì các pháp đều là chánh, nếu đã thấm nhuần Phật Pháp thì thấy cái gì cũng là Phật Pháp, cái phi pháp mà cũng thấy thành Phật Pháp, vậy mà có người thấy cái trong Phật Pháp lại thấy thành cái phi pháp thì đủ biết tâm người đó thế nào rồi!.."
    Chánh tâm là gì? Phải chăng đó là Chánh Kiến (Thấy như nó đang là), Chánh Tư Duy (biết tính chất, thực thể, giá trị, vv của nó theo Tam Pháp Ấn), Chánh Định (dựa trên nền tảng Khổ, Vô Thường, Vô Ngã mà tâm định tĩnh) ? (không bàn đến Chánh Niệm, vì Chánh Niệm thì ai theo Phật Pháp hay bàng môn tả đạo khi thiền định quán tưởng đều phải dùng, vì nó chỉ có nghỉa là chú ý tới cái đang xảy ra, như khi mình thở ra vô thì biết mình đang thở ra vô, chỉ có thế thôi, không suy luận, phát xét, thêm thắt tưởng tượng tưởng voi gì cả). Tâm [đả thuần thục-bằng chánh hay tà pháp] thì vốn vô sắc, vô tướng, nhu nhuyễn, dễ sử dụng cho bất cứ mục đích nào, nên Phật củng đã đề cập đến Tà Kiến, Tà Tư Duy, Tà Định. Cho nên nói rằng "nếu tâm đã chánh thì các pháp đều là chánh" là sai từ đầu, là tà kiến trầm trọng! Có "Chánh Tâm" không có chuyện cái gì (pháp) sai là đúng, cái gì phi pháp là Phật pháp được! Nói thế có khác nào bọn Hồi giáo cực đoan hiện thời cho rằng họ mới đúng (tợ chánh tâm), và họ giết người, khủng bố là phải đạo (tợ cái gì phi pháp, bất tuân luơng tri là Phật pháp)? Cho nên, đừng bá vơ gom rác rưởi mà gọi đó là Phật Pháp, vốn đã được phân định đúng sai chính tà rõ ràng trong kinh điển Nguyên Thủy. Xin đừng có nhận vơ là Chính Đạo! Nếu Tà Pháp mà nặc danh muốn xiển dương mà bán không chạy, phải mập mờ đánh lận con đen, treo đầu dê bán thịt chó, ỡm ờ: "cái gì cũng là Phật Pháp, cái phi pháp mà cũng thấy thành Phật Pháp" là đã vi phạm bản quyền, làm đồ giả, lừa đảo, xuyên tạc, lũng đoạn Thứ Thiệt! Chánh Pháp của Phật đã rạch ròi xuyên suốt qua các kinh Nguyên Thủy, nguồn gốc rõ ràng có thể kiểm chứng, có định dạng và lưu lại bằng chử viết trên lá buông sớm hơn tất cả rác rưởi Đại Thừa tưởng tượng ra mà không ai có thể tìm ra gốc gác cả mấy trăm năm! Đồ Thiệt thì không cần quảng cáo, lăng xê, trước sau thì người trí cũng biết, chỉ có đồ giả là rầm rộ ta đây: Đại Đại Tối Thượng Thừa Liễu Nghĩa Kinh, có đầy đủ món tả-pí-lù Hằng Hà Sa Số Chư Phật nào đó, Bồ Tát, Thiên Vương, Quỷ, Thần, Cô Hồn, Các Đảng, tỷ tỷ đầy khắp tam thiên đại thiên thề giới! Và thêm nữa, chúng sinh đời nay là toàn lũ căn cơ hạ liệt, hạ trí, ngu si, chỉ nên chổng mông xì hơi thúi cúi đầu mà lạy, mà tụng, mà niệm thần chú tưới hột sen theo các Đại Đại Tối Thượng Thừa Liễu Nghĩa Kinh ấy, không cần suy nghĩ, thiền quán, tư duy gì sất! Vậy mà dám nói đó là cách Phật dạy để giải thoát sinh tử luân hồi? !hật là hết chỗ nói!
    Nói tóm lại, ai hành cái gì Đại Thừa hay Bà La Môn Thừa, Ấn Giáo Thừa, Trung Hoa Giáo Thừa ( Thiền, Tịnh, "Phật") thì cứ hành đi, không ai phản đối, nhưng đừng nhận vơ là Phật Giáo, thế thôi! Nói là Phật giáo mà tu theo các pháp môn không có nguồn gốc rõ từ Phật để lại, thì sao dám tăng thượng mạn mà gọi là Phật Giáo? Giảng cho bọn ngu si thêm rõ: Giáo là dạy. Phật Giáo là Phật dạy. Theo Phật Giáo là theo lời Phật dạy. Đồ bá vơ không nguồn gốc rõ ràng từ lời Phật để lại...vẫn muôn đời là điều bá vơ! Có tu theo Tổ Giáo ( học theo các tổ TQ) thì cứ y như vậy đi, có ai cấm cản đâu? NHƯNG ĐỪNG NHẬN LÀ TU THEO LỜI PHẬT THÍCH CA DẠY!!
    Không còn gì phải nói thêm nữa!

    Trả lờiXóa
  5. Cho tui "hùa" với, mấy ông nội "u mê một cách có hệ thống này" hết thuốc chữa rồi, đã bị cái bọn Tàu Khựa ăn hồn nuốt xác mất rồi. Mấy ngàn năm bị đô hộ, bị Hán hoá không sáng mắt ra, không thấy nhục sao mấy ông nội. 2 ì ạch tui ko phải Phật sanh, Phật tử gì hết, nhưng nghe TL. Thích Thông Lạc nói thì OK liền vì nó đúng quá xá quà xa. Trên cái cõi đời này chỉ có những kẻ bất tài vô tướng, những kẻ lừa đảo mới loạn ngôn, lừa bịp thiên hạ kiếm cơm, kiếm tiền, kiếm dola... mới đi cổ xuý cái hư vô, ảo tưởng dùng toàn những từ ngữ mơ hồ trừu tượng để mê hoặc mấy ông, bà Phật tử có Trí mà không biết Nghĩ, nói nghe hay quá mà sao không thấy ông thầy, bà thầy nào tu chứng được cái quả vị gì hết trơn vậy (toàn chỉ thấy ngày càng béo mũm mĩm ra thôi). Sao Phật tử mình cũng có nhiều người có ăn học mà không biết suy nghĩ cho thấu đáo vậy ta. Ông nào tu chứng đâu? Nói ra tui nghe coi. Cái ông "Nặc danh" trên kia chứng tới cái gì rồi, Tham -Sân -Si diệt tới đâu rùi. Toàn lý thuyết suông. Tu quài mà ko chứng tức là tu sai, hoặc biết sai nhưng vẫn tu (vì để kiếm danh, lợi). Thôi lo tu đi, chứng được cái gì rồi hẵng nói tiếp, nếu chưa chứng được cái gì thì xin im lặng và đọc cho kỹ, suy nghĩ cho thật kỹ và sau đó tu chứng (hoặc diệt được Tam độc) rồi hãy nói tiếp nha mấy ông nội. Còn kẹt quá thì cứ hô đại lên là tui đã diệt được Tham hoặc Sân hoặc Si rùi, ít ra cũng phải diệt được 1 trong 3 cái cỏn còn con này thì mới đủ tư cách để bàn luận tiếp Phật pháp chứ nhở. 2 ì ạch tui chẳng phải Phật tử nên quan điểm phàm phu tục tử của tui là như thế này: nếu xem Phật giáo là ngôi nhà mang tên "Giải Thoát" thì Tam độc "Tham-Sân-Si" chính là nền móng của căn nhà này, móng có vững thì nhà mới cao, to, đẹp được, bằng ko thì chỉ như là "Xây nhà trên cát" mà thôi. Nói chi nhiều; tranh luận làm gì; ngôn từ hoa mỹ, cao siêu mà làm chi phải không các huynh; Mạ chưa gieo, giống chưa có, đất chưa làm mà đã lo nói chuyện nấu cơm lo chọn thức ăn gì cho nó ngon; không thực tế chút nào cả. Hãy Tỉnh Thức đi quý vị ơi, cùng nhau rời khỏi cái bóng Trung Hoa ngàn đời, ngàn kiếp. Hãy đọc cho kỹ, nghĩ cho thật kỹ những gì Ngài Thông Lạc nói và chúng ta sẽ làm lại từ đầu, xây nhà từ móng. Vì sao vậy? Vì lâu nay quý vị tu theo mấy ông Tổ...nội kia nhưng chả đạt được gì (hoặc có đạt nhưng chưa rốt ráo), và đem những lý thuyết trừu tượng chẳng "hành" được kia ra cãi nhau ỏm tỏi cả lên. Thui, giờ cứ xem như đường nào cũng uổng phí hơn nữa kiếp người tu hành rùi mà chả đạt được cái quái gì cả "Tham - Sân - Si" vẫn còn y nguyên; phần đời còn lại thôi thì mình chơi tới bến (chơi tới bến tức là toàn Tâm toàn Ý toàn Lực mà chơi, chớ hổng phải chơi cho biết, chơi thử nghiệm nghen) theo cách của Thầy Thông Lạc xem sao, đường nào cũng đã uổng phí rùi; biết đâu......
    Kính!

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. hay quá. chúc bạn sức khỏe và hãy quy y phật.

      Xóa
    2. ong thich thong lac ngu nhu heo ma cung thuyet phap. da tu hanh ma con che dam che bai cac to cac thay. tang khen tang phat phap hung thinh. tang che tang phat phap suy doi. noi tom lai og chi muon minh hon nhug nguoi khac thoi. og cug chua tim hieu hay biet nhieu ve phap mon tinh do .thien tong hay mat tong ma an noi ngong cuong. ong chet roi thi chug sanh moi duoc nho. ong dung la ma vuong pha hoai chanh phap ma

      Xóa
  6. Triết học phật giáo bao gồm nhiều hệ phái, quan điểm rất khúc triết. Thật ra nói theo như các nhf học giả Án Độ là nó có tích hợp một số tư tưởng của phệ đà, áo nghĩa thư. Tất nhiên tư tưởng chính đã rẽ sang lối khác. Quan điểm của thầy Thích Thông Lạc chỉ diển giải dựa trên sự lý giải của thầy về giáo điển nguyên thủy. Nó cũng khá thực tế, dể tiếp thu đối với người bình dân mới nhập môn. Các triết lý về tính 'không' của đại luận sư Long Thọ và duy thức của ngài Thế Thân, Vô Trước v.v.., quả thật rất uyên thâm, cao xa. Khó giúp gì cho người trí tuệ hạn chế. Chuyện sai hay đúng trong việc này có lẽ chưa nên đặt ra. Vì có lẽ nhiều người trong đó có thể có thầy (TTL) có thể chưa hiểu hết được hàm ý của thuyết. Đơn giản xin hỏi: "thanh tịnh tâm giúp cho ta tiệm cận đến thực tướng của thế giới tự nhiên. Thế nhưng tu tập đã lâu thì đã có mấy ai hiểu được Einstein nói gì hay không? Hay chỉ lập lại như con vẹt những điều mà ông phát biểu!". Đấy, cái pháp rất thô sơ của tự nhiên mà còn chưa thấy được sự rốt ráo nền tảng của nó thì còn nói chi đến triết học...! Mà Ấn Độ là nước có nền triết cổ đỉnh cao đến ngay như nhà triết học lổi lạc của Đức là Schopenhauer vẫn còn chạy dài khi tìm hiểu về nó.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Vậy thì bạn "Nặc danh" hiểu biết gì về "tính không" và "duy thức" mà dám bảo là "uyên thâm, cao xa"? Hay bạn cũng chỉ lập lại những gì mà các Tổ phán như một con vẹt? Thật là đáng tiếc cho những ai không thấy mà cứ bảo là thấy, không hiểu mà cứ bảo là hiểu, ... Đức Phật không cho đó là điềm lành, bởi nó sẽ làm cho các tác dụng kỳ diệu bị tán loạn và biến mất.

      Xóa
  7. ối trời ơi, chúng mày thiền tới đâu mà phê phán vậy ? Nên nhớ rằng, các vị cao tăng đều có phật di đà trụ trên đầu đó nhé!!!

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Bạn đã nói tiếng không phải của người mộ đạo phật, lại dùng từ ngữ ô trọc, và vài từ của thiền tông và đại thừa lẫn lộn..... chxa!!! Tội nghiệp!!

      Xóa
    2. Bạn đã nói tiếng không phải của người mộ đạo phật, lại dùng từ ngữ ô trọc, và vài từ của thiền tông và đại thừa lẫn lộn..... chxa!!! Tội nghiệp!!

      Xóa
    3. Cần gì tới cao tăng chứ? Mà đâu cần phải hành thiền làm chi? Tôi thấy ngay luôn một ông mập béo đang ngồi trên cái đầu bạn đó. Công kênh ổng bao lâu rồi? Có mệt không?

      Xóa
    4. ông mập béo là gì vậy?? mô tả xem nào??

      Xóa
  8. Mình thích nguyên thủy, thích những lời nói của thích ca mâu ni.,càng chinh xác càng tốt. Những biện giải đều là ý tưởng lai căng, không thực ( vọng tưởng). Xin cảm ơn thầy Thich Thông Lạc và đại học Vạn hạnh đã khai mở tâm trí cho tôi

    Trả lờiXóa
  9. Mình thích nguyên thủy, thích những lời nói của thích ca mâu ni.,càng chinh xác càng tốt. Những biện giải đều là ý tưởng lai căng, không thực ( vọng tưởng). Xin cảm ơn thầy Thich Thông Lạc và đại học Vạn hạnh đã khai mở tâm trí cho tôi

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Tùy bạn không ai ép được chúng sanh có lợi căn và độn căn vì thế pháp của phật có đủ để phù hợp với mọi căn cơ. vì thế mới có kinh dại thừa và tiểu thừa mới có pháp môn dễ và khó mau và chậm. vì thế mọi người cứ tự nhiên chọn cho mình một cách tu. nhưng nói gì thì nói người tự xưng là alahan và chỉ trích các vị tổ cả ngàn năm nay thì không ổn rồi

      Xóa
    2. Tùy bạn không ai ép được chúng sanh có lợi căn và độn căn vì thế pháp của phật có đủ để phù hợp với mọi căn cơ. vì thế mới có kinh dại thừa và tiểu thừa mới có pháp môn dễ và khó mau và chậm. vì thế mọi người cứ tự nhiên chọn cho mình một cách tu. nhưng nói gì thì nói người tự xưng là alahan và chỉ trích các vị tổ cả ngàn năm nay thì không ổn rồi

      Xóa
    3. Tùy bạn không ai ép được chúng sanh có lợi căn và độn căn vì thế pháp của phật có đủ để phù hợp với mọi căn cơ. vì thế mới có kinh dại thừa và tiểu thừa mới có pháp môn dễ và khó mau và chậm. vì thế mọi người cứ tự nhiên chọn cho mình một cách tu. nhưng nói gì thì nói người tự xưng là alahan và chỉ trích các vị tổ cả ngàn năm nay thì không ổn rồi

      Xóa
  10. Mình cũng đã theo Đại Thừa, tìm hiểu Tịnh Độ, và cũng nương theo pháp ĐT mà hành trì.Nhưng thật sự mà nói, ko lừa gạt bản thân mình được, mình như chạy theo ảo tưởng, cứ tin một cách mù quáng, bên ngoài mình có thể hiện mình thấu hiểu, một người có tu tap thuan hanh.Nhưng ko giấu được con người bên trong khi còn đầy rẫy nhiều thảm, sàn , si, dục lạc , mê muội và tà kiến.Vô tình xem qua những gì thấy TTL mình cảm thấy hoang man vô cùng, tất cả như sụp đổ hoàn toàn và những gì bấy lâu nay chỉ là huyền hoặc.Nhung nghi lai, nhung gi thay TTL noi hoan toan khong sai.Ngày nay người ta tu theo hình tượng và lợi nhuận, biết bao cái gia doi phơi bày trước mắt vậy mà vẫn có tin cho đó là thật.Bản thân mình cố chấp ko hiểu rõ thế nào là nhân quả, là sự thật, là trí tuệ nên cứ mải mê theo mộng tưởng.Đạo phật nó không xa vời đâu, nó ngay trong cuộc sống và thực tế, khi con người sống có tỉnh giác, lấy cái nhân quá suy xét và hành động không hai người, hai vật và làm lợi ích cho mọi người , thì đó chính là Đạo Phật.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Tôi cũng như bạn, cả gia đình và Tôi theo đại thừa, nhưng bây giờ tôi theo Phật giáo nguyên thủy.

      Xóa
    2. Chuẩn tôi cũng đã từng như bạn tìm hiue63 rất nhiều thiền tông mật tông, tịnh độ tông, roi thực hành dọc kinh sách . nhung đén khi nghe TL. Thích thông lạc chỉ dạy thì mọi thứ như sụp đổ trước mắt. Bấy lâu nay mình đã mù quáng. xuy xét kỹ Lòi TL dạy không sai chút nào. may mà được gặp không uổng phí một đời

      Xóa
  11. Tôi không biết thầy Thích Thông Lạc có tu chứng A La Hán hay không nhưng sau khi đọc tập 1 của Đường về xứ Phật do thầy viết thì tôi đồng ý với thầy, trước kia tôi cũng rất tức giận khi thầy bài bác những gì tôi đã học, đã biết và đã tin nhưng hiện tại tôi chuyển sanb tin thầy. Không biết tương lai tôi có còn tin thầy nữa không nhưng hiện tại tôi đồng ý với quan điểm của thầy bởi tâm vô thường.
    Chỉ có tu chứng mới biết thật giả tà chánh, đúng là thời Mạt Pháp các bạn ạ.

    Trả lờiXóa
  12. Tôi rất thích quan điểm của thầy Thích Thông Lạc, thầy bảo Đức Phật dạy niệm Phật tức là nhớ tới đời sống đức hạnh của Phật để sống như Phật chứ không phải niệm danh hiệu Phật như ngày nay, niệm Pháp tức là luôn nhớ tới Phật Pháp để áp dụng vào cuộc sống chứ không phải tụng kinh như ngày nay...Tu là phải tự lực chứ không có chuyện nhờ tha lực như các Tổ nói.
    Lúc đọc quan điểm của thầy tôi hoang mang lắm, tức giận lắm nhưng giờ thì tôi thấy thanh thản vì những lời dạy của thầy TTL rất khoa học, tự kiểm chứng được.
    Tôi không biết việc tin vào thầy Thích Thông Lạc là đúng hay sai nhưng tôi chọn tin vào thầy vì tôi thấy nó khoa học. Hồi xưa tôi từng bảo đem kiến thức khoa học mà suy tư Phật pháp là đầu óc phàm phu, đem trí tuệ hữu hạn mà phân tích lời dạy của Thánh là điên...nhưng giờ tôi nhận ra những lời gốc Phật dạy rất dễ hiểu, mộc mạc, hạng phàm phu cũng hiểu được chứ mà khó hiểu cao siêu thì Phật thuyết pháp cho bậc phàm phu chúng ta nghe làm gì cho mệt :v

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. AI CŨNG TỚI CÁI NGÀY RA ĐI, LÚC ĐÓ CÁC BẠN SẼ THẤY NHIỀU CẢNH GIỚI NÓ HÓA HIỆN LÀM CHO THẦN THỨC CHÚNG TA ĐIÊN ĐẢO, RẤT SỢ HẢI, ĐẾN THẾ GIAN NÀY CŨNG CÓ MỘT MÌNH, ĐI CŨNG CÓ MỘT MÌNH, MÀ NGHIỆP CỦA CHÚNG TA ĐÃ TẠO BAO ĐỜI BAO KIẾP VÀ KIẾP NÀY, KHÔNG BIẾT LÀM SAO KỂ XIẾT, KHÔNG THỂ TỰ LỰC MÀ TIÊU TRỪ HẾT TỘI ĐƯỢC.
      * KHI LÂM CHUNG KHÔNG BIẾT NƯƠNG TỰA VÀO ĐÂU HẾT, NGHỈ TỚI ĐÂY CÁC BẠN KHÔNG SỢ HÃI SAO? CHỈ CÓ DANH HIỆU CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ MÀ HÀNG NGÀY CHÚNG TA CHẤP TRÌ, XƯNG NIỆM MỚI CÓ THỂ CỨU CHÚNG TA ĐƯỢC, VÌ MỘT CÂU NIỆM PHẬT TIÊU TRỪ ĐƯỢC 80 ỨC KIẾP SANH TỬ VÀ ĐƯỢC 80 CÔNG ĐỨC VI DIỆU. VẬY TẠI SAO CHÚNG TA KHÔNG NƯƠNG VÀO CÂU VẠN ĐỨC HỒNG DANH CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ ĐỂ TỰ CỨU LẤY SANH TỬ MÌNH, MÀ PHẢI ĐI TỰ LỰC, ĐỂ RỒI KHÔNG BIẾT SAU KHI BỎ THÂN NÀY CHÚNG TA ĐI VỀ ĐÂU.
      * NHIỀU ĐỨC PHẬT ĐÃ RA ĐỜI VÀ KHI ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA RA ĐỜI CÓ KHI NÀO CÁC BẠN TỰ HỎI: "LÚC ĐÓ MÌNH ĐANG Ở ĐÂU? TẠI SAO KHÔNG GẶP ĐƯỢC PHẬT, MÀ BÂY GIỜ PHẢI SANH TRONG ĐỜI MẠT PHÁP NÀY? RỒI ĐI SAU KHI HẾT THÂN NÀY MÌNH ĐI VỀ ĐÂU?".
      * PHẬT DAY: "ĐƯỢC THÂN NGƯỜI LÀ KHÓ, GẶP ĐƯỢC PHẬT PHÁP LẠI CÀNG KHÓ HƠN". GẶP ĐƯỢC PHÁP MÔN NIỆM PHẬT LẠI CÀNG KHÓ HƠN NỮA, ĐỪNG BỎ LỠ CƠ HỘI VÃNG SANH TÂY PHƯƠNG TRONG ĐỜI NÀY. HÃY SUY NGHĨ, SUY NGHĨ CHO KỸ VÀ NẮM LẤY MÀ HÀNH TRÌ DANH HIỆU ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ THEO LỜI DẠY CỦA ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA VÀ HỒI HƯỚNG CÁC CÔNG ĐỨC VỀ THẾ GIỚI TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC ĐỂ KHI LÂM CHUNG CHÚNG TA CHÁNH NIỆM, KHÔNG BỊ LẠC ĐƯỜNG.
      * ĐÓ LÀ LÝ DO MÀ VÌ SAO HÀNG NGÀY CHÚNG TA PHẢI XƯNG NIỆM DANH HIỆU CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ.
      * MONG LÀ CÁC BẠN VÌ SỰ SANH TỬ CỦA MÌNH, VÌ CHẾT KHÔNG PHẢI LÀ HẾT MÀ CHỈ BỎ THÂN NÀY THỌ THÂN KHÁC MÀ THÔI, VÌ VẬY HÃY CỐ GĂNG NƯƠNG THEO PHÁP MÔN NIỆM PHẬT, ĂN CHAY, GIỮ GIỚI, VỚI ĐẦY ĐỦ TÍN NGUYỆN HẠNH THẬT KIÊN CỐ, THẬT DÕNG MÃNH KHÔNG THỐI CHUYỂN ĐỂ ĐỜI NÀY NHẤT ĐỊNH CHÚNG TA VÃNG SANH TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC, GẶP ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ, THÀNH PHẬT ĐỘ CHÚNG SANH.

      NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

      Xóa
    2. tôi cũng có một thời gian dài NIỆM PHẬT để mong được sau này VÃNG SANH VỀ CỰC LẠC, tôi đã niệm Phật tới mức Nhập Tâm tức là nghe được tiếng niệm Phật bên tai lúc nào tùy ý, cuối cùng tôi phải bỏ pháp môn đó vì biết rằng THẾ GIỚI CỰC LẠC là do những tổ bên trung quốc tưởng tượng ra chớ không có thật. làm uổng phí hết một thời gian.

      Xóa
  13. Tôi rất thích quan điểm của thầy Thích Thông Lạc, thầy bảo Đức Phật dạy niệm Phật tức là nhớ tới đời sống đức hạnh của Phật để sống như Phật chứ không phải niệm danh hiệu Phật như ngày nay, niệm Pháp tức là luôn nhớ tới Phật Pháp để áp dụng vào cuộc sống chứ không phải tụng kinh như ngày nay...Tu là phải tự lực chứ không có chuyện nhờ tha lực như các Tổ nói.
    Lúc đọc quan điểm của thầy tôi hoang mang lắm, tức giận lắm nhưng giờ thì tôi thấy thanh thản vì những lời dạy của thầy TTL rất khoa học, tự kiểm chứng được.
    Tôi không biết việc tin vào thầy Thích Thông Lạc là đúng hay sai nhưng tôi chọn tin vào thầy vì tôi thấy nó khoa học. Hồi xưa tôi từng bảo đem kiến thức khoa học mà suy tư Phật pháp là đầu óc phàm phu, đem trí tuệ hữu hạn mà phân tích lời dạy của Thánh là điên...nhưng giờ tôi nhận ra những lời gốc Phật dạy rất dễ hiểu, mộc mạc, hạng phàm phu cũng hiểu được chứ mà khó hiểu cao siêu thì Phật thuyết pháp cho bậc phàm phu chúng ta nghe làm gì cho mệt :v

    Trả lờiXóa
  14. trước khi bình luận hãy nhìn thực tế ,cái thấy của chính mình mới đúng .HÒA THƯỢNG THÍCH THÔNG LẠC nói những gì thực tế .

    Trả lờiXóa
  15. Ngày nay, điêu khắc tượng phật nằm,tượng bổn sư thích ca, tượng phật thích ca đẹp không chỉ mang tính chất tâm linh thành kính của phật tử mà còn là nét đẹp nghệ thuật văn hóa

    Trả lờiXóa
  16. Lúc trước tôi mới nghe đến lời thầy nói tôi tức giận lắm nhưng sau khi lắng lòng lắng nghe và suy ngẫm tôi thấy thầy nói rất đúng .Hóa ra chúng ta gián tiếp học kinh sách của hàng bà la môn và trung quốc dưới mạc phật giáo phát triển mà chúng ta ko biết

    Trả lờiXóa
  17. Từ ngày đọc sacsh của HT thấy tâm mình an hơn nhiều. Đúng là quý báu

    Trả lờiXóa
  18. Theo dai thua toan thay cung duong la chinh kakaka

    Trả lờiXóa
  19. luongbm2006@yahoo.com03:28 4 tháng 12, 2016

    Từ tối đêm qua vô tình nghe được Thuyết Pháp của Thầy Thích Thông Lạc tôi thấy rất cụ thể (TTL) Nên cả ngày hôm nay tôi xem hết Clip cuộc đời Thầy, và đọc thông tin trên trang mạng Nguyên Thủy Chơn Như, Thầy TTL một chân tu với cuộc đời tu kham khổ chân thật không mưu lợi, chỉ dạy điều đúng lẽ phải, tôi không giỏi về nghiên cứu Phật Pháp, nhưng 2 năm nay có tìm hiểu và nghiên cứu cùng nghe Thuyết Pháp của nhiều Đại Đức. Nhưng tôi ghi nhận những gì Thầy TTL nói về PGNT rất khoa học, có cơ sở. Lúc đầu tôi cũng hoang mang vì đã nghe Pháp của nhiều Đại Đức của các Pháp môn, nhưng tôi vẫn ghi nhận và sàn lọc được những cái cơ bản, cái chung của Phật Giáo ở các Pháp môn và so với PGNT của Thầy TTL. Tất cả chúng ta là phật tử hay không phật tử có thể nhận thức được những gì phù hợp với thực tế với cuôc sống hiện tại và đúng với lương tâm đạo đức con người thì tin tưởng và quyết tâm sống, thực hành cho tốt theo lời dạy của Phật.Tôi đã tin Thầy TTL và tiếp tục nghiên cứu thêm. Tôi cũng không chê trách, đánh giá Pháp môn nào chỉ sàng lọc lại cho thực tế cái gì đúng thì làm theo không đúng thì ta bỏ qua, nhất là các hủ tục mê tín dị đoan. xin được chia sẻ. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    Trả lờiXóa
  20. Đức Thích Ca đã nói: "Được thần người khó, mà gặp đạo Phật còn khó hơn"!!

    - Nhìn ngày nay, người người đông đúc biết bao nhiêu, chùa chiền mọc lên như nấm, người người có nhân duyên với chùa, với những vị Thầy tu trong chùa nhiều biết bao nhiêu...Tình cờ vào chùa thắp nhang, cũng là đã có duyên với đạo Phật rồi. Vậy sao Đức Thích Ca lại nói khó?? Bởi vì......!!

    - Đức Thích Ca đã nói đúng, gặp Đạo Phật thật khó!

    Trả lờiXóa
  21. Giáo lý (triết học) Phật giáo rất uyên thâm. Khó thể lĩnh hội thấu đáo. Một số nhà nghiên cứu Phật học Ấn Độ cho rằng có những nguyên lý, ý niệm của Ấn Độ giáo (Bà La Môn) được tích hợp trong giáo lý nhà Phật. Triết học Vệ Đà, Áo nghĩa Thư cũng rất siêu việt cho nên rất khó để lĩnh hội đầy đủ tư tưởng triết học của hai tôn giáo này. Trong thực tế, phần thanh văn của giáo lý quá cao xa như vậy, lại thiên về tư tưởng (duy tâm) cho nên có thể nói người tu tập rất dễ xa rời hiện thực, thậm chí thường suy luận, lý luận theo sở kiến. Việc hành thiền nhiều người "thiền" đã vài chục năm nhưng..cái sự thật của đạo vẫn không thấy được (!). Nếu có giảng pháp thì cũng chỉ nhắc lại những gì mình đã đọc và thuộc trong kinh sách do soạn giả khác biên soạn vì thật sự bản thân cũng không có thực chứng. Giảng thì theo sách, còn trong cuộc sống hầu như thấy mọi cái đều là sự thật (thực chất) còn ý niệm giả tướng, giả hình vẫn còn mơ hồ lắm. Phải chăng, Phật giáo về căn bản là một khuynh hướng, một học thuyết triết học?

    Trả lờiXóa
  22. chúc mừng nặc danh, khi đọc các bài của Thầy Thông Lạc đã khiến tôi hết hoài nghi mà bấy lâu nay không có thầy nào giải được mà đều tôi có được cũng do nhân và duyên nên có được mà thôi.

    Trả lờiXóa