THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN (Paticca samuppāda) - Minh Đức Triều Tâm Ảnh

THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN
(Paticca samuppāda)
Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Duyên khởi là giáo pháp tinh yếu, cốt tủy của đạo Phật. Đức Phật sau khi thành Đạo dưới cội Bồ-đề, Ngài đã để dành bảy ngày đầu tiên để chứng nghiệm hạnh phúc giải thoát. Trong đêm cuối cùng của bảy ngày ấy, Ngài quán xét Thập Nhị Nhân Duyên theo chiều thuận, như sau:
- Tùy thuộc vô minh (avijjā), hành (saṅkhāra) phát sanh.
- Tùy thuộc hành (saṅkhāra), thức (viññāṇa) phát sanh.
- Tùy thuộc thức (viññāṇa), danh-sắc (nāmarūpa) phát sanh.
- Tùy thuộc danh-sắc (nāmarūpa), lục nhập (salāyatana) phát sanh.
- Tùy thuộc lục nhập (salāyatana), xúc (phassa) phát sanh.
- Tùy thuộc xúc (phassa), thọ (vedanā) phát sanh.

SINH KÝ TỬ QUY - Ajahn Chah

a_chahTrong bài này Đaị sư Ajahn Chah, một vị sư Thái lan có lối giảng dậy thật giản dị, chân thực đã thu hút được nhiều đệ tử tây phương, nói chuyện với một nữ đệ tử già yếu đang sắp chết. Bằng một giọng trầm tĩnh sâu xa, đại sư nhắc lại cho bà nghe về lý vô thường, và dạy những phương tiện để đối phó với những đau khổ -- trước tiên là niệm chú, rồi tập trung tư tưởng vào hơi thở. Niệm chú ở đây không có ý nghĩa thần bí gì, mà chỉ là dùng những câu nói có năng lực tốt lành diệu dụng để bảo vệ tâm trí khỏi những khởi niệm về trạng thái đau khổ của một người đang nằm trên giường bệnh. Khi tâm dần dần lìa khỏi những khởi niệm tự phát nơi thân và bắt đầu cảm nhận được những năng lực tốt lành, sự lo sợ sẽ tan đi và thay vào đó là một trạng thái an tĩnh đủ để cho tâm tập trung được vào nhịp lên xuống của hơi thở.

PHÁP LUYỆN TÂM - Ajahn Chah

PHÁP LUYỆN TÂM Ajahn Chah
Phạm Kim Khánh & Sumanā Lê Thị Sương chuyển ngữ Việt

ajahna_chah(Dưới đây là thời Pháp do Ngài AJAHN CHAH thuyết giảng tại chùa Bovornives, Bangkok, vào năm 1977, trước một cử tọa gồm chư Tăng Thái và một nhóm tỳ khưu người Tây Phương.)
Vào thời của các Ngài Thiền Sư Ajahn Mun [1] và Ajahn Sao [2], đời sống thật là giản dị, ít phức tạp hơn ngày nay nhiều. Trong những ngày xa xưa ấy có rất ít Phật sự phải làm và rất ít nghi lễ để cử hành. Các Ngài sống giữa rừng sâu, không cố định một nơi nào. Trong hoàn cảnh tương tợ các Ngài có thể dành trọn vẹn thì giờ của mình để hành thiền.
Những tiện nghi mà ngày nay ta xem là thông thường, ai cũng có, vào thời ấy thật là hiếm hoi; đúng ra là không có tiện nghi gì hết. Các Ngài phải dùng ống tre để làm ly uống nước và ống nhổ, còn thiện tín cư sĩ thì chẳng có ai tới lui thăm viếng. Các Ngài không ham muốn, cũng không cầu mong gì nhiều mà chỉ an phận, vui vẻ với những gì mình đang có. Các Ngài có thể sống và hành thiền, sống và hành thiền cũng tợ như sống và thở.

Nghĩ ngơi thân và tâm - Minh Đức Triều Tâm Ảnh

blank

Tôi đi từ cụm từ“thư xả” để bắt đầu cho buổi nói chuyện về thiền định và thiền tuệ hôm nay. Tôi sẽ nói đơn giản thôi. Đơn giản với ngôn ngữ đời thường cho ai cũng nghe được, hiểu được. Và ai cũng có thể thực hành được. Tôi sẽ tự giới hạn không sử dụng thuật ngữ Phật học hay thiền học vì nó phức tạp lắm, nhất là đối với những người không phải là Phật tử lâu năm, hoặc không phải là hành giả trong một lớp thiền nào đó.
Thư xả là nghỉ ngơi toàn bộ thân và tâm, nghĩa là thân phải thư giãn, tâm phải buông xả. Tại sao thân tâm phải thư giãn, buông xả?

Sưu tập: ĐỊNH NGHĨA CỦA CHÁNH ĐỊNH (Sammā Samādhi) trong Kinh Điển Pali

dolphins-dreamdesign-blume-des-lebens-goldene-lichtenergie-224625I. NĂM ĐẶC TÍNH CUẢ CHÁNH ĐỊNH

Khái niệm Chánh Định (sammasamādhi ) trong Đạo Phật nguyên thủy
được đề cập tới trong bài KINH ĐỊNH trong Tăng Chi Bộ, chương năm pháp
http://www.budsas.org/…/u-kinh…/tangchi05-0106.htm
- Chánh Định có thể nhận biết dựa trên năm yếu tố (đặc tính) như bài kinh Định đã đưa ra:
1. Ðịnh này hiện tại lạc và tương lai có quả dị thục lạc, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên.
2. Ðịnh này thuộc bậc Thánh, không thuộc vật chất, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên.
3. Ðịnh này không do người ác thực hiện, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên.
4. Ðịnh này an tịnh, thù diệu, đem đến khinh an, đạt được nhất tâm, không phải là sự chế ngự gò ép thường xuyên, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên.
5. “An tịnh, ta nhập định này. An tịnh, ta xuất khỏi định này”, trong mỗi người trí (như vậy) khởi lên.

Tam Pháp Ấn: VÔ THƯỜNG, KHỔ, VÔ NGÃ - Hòa thượng Viên Minh

 Vô thường, khổ và vô ngã được gọi là Tam Pháp Ấn, tức là 3 ấn tướng hay 3 yếu tính trong cùng một pháp chứ không phải là 3 thành phần riêng biệt với nhau. Vì vậy chỉ cần thấy được một trong ba tính chất này tức là đã thấy được thực tính pháp, nên ngay đó liền thấy được hai tính chất còn lại, chứ không phải thấy yếu tính này xong rồi mới tìm hiểu yếu tính kia.
Khi nói đến Vô Thường, Khổ, Vô Ngã thì chúng ta cần lưu ý, đó là nói đến bản chất tự nhiên của pháp, hay nói đến nhận thức của mình về bản chất ấy. Thường thì người ta nhầm lẫn giữa nhận thức của mình về khái niệm (chế định) vô thường, khổ, vô ngã với bản chất thật (thực tính) của pháp.

NGŨ CĂN (Pañcindriya) NGŨ LỰC (Pañcabala) - Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Indriya có nghĩa là căn, gốc, khả năng, làm chủ, cốt yếu... Bala là lực, là sức mạnh. Vậy ngũ căn là 5 trạng thái tâm căn bản, 5 yếu tố tâm lý căn bản có khả năng kiểm soát tâm, làm chủ tâm. Và khi mà ngũ căn được tu tập, làm cho sung mãn thì sẽ biến thành ngũ lực; tức là tạo nên 5 sức mạnh, hỗ trợ hữu hiệu cho hành giả thực hành thiền định và thiền tuệ.

BỐN PHÁP TẾ ĐỘ (Tứ Nhiếp Pháp) - Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Bốn pháp tế độ phát xuất từ cụm từ saṅgāha vattha nghĩa là sự thu phục, nhiếp hóa, cảm hóa, tế độ. Đây là 4 pháp, 4 nguyên tắc sống mà tiền thân chư Phật, tức chư Bồ-tát thường áp dụng để nhiếp hóa, cảm hóa chúng sanh, hướng dẫn chúng sanh trên con đường phước thiện, đạo đức. Bốn pháp này liên hệ hữu cơ, gắn bó thiết cốt với nhau, như một cái bàn có bốn chân, thiếu một thì cái bàn sẽ khập khiễng. Cũng vậy, bốn pháp tế độ mà thiếu một thì sự cảm hóa chúng sanh sẽ giảm hẳn hiệu năng.
Vậy 4 pháp ấy là gì?

MƯỜI NGHIỆP LÀNH - Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Người, vật, chim muông, hoa lá, cỏ cây, lâu đài, phố thị, làng mạc... đều nương tựa trên mặt đất. Cũng vậy, chúng sanh hữu tình, các bậc trí tuệ, chư thánh nhơn, đức Phật... cũng do 10 nghiệp lành mà có sắc thân, tướng mạo, y báo, chánh báo sai khác, dị đồng... Tất cả phải nương tựa nơi 10 nghiệp lành vậy.
Mười nghiệp lành không những ngăn giữ chúng sanh khỏi bị đọa lạc vào bốn con đường đau khổ, mà còn mở cánh cửa thênh thang hạnh phúc an vui của phước báu nhân thiên sang cả. Mười nghiệp lành thường quyết định duyên lành, làm cho thông minh sáng láng, học hành thành đạt, sự nghiệp hanh thông, gia đình ấm êm và cả trí tuệ thông hiểu con đường xuất ly ba cõi nữa.
Người Phật tử sau khi thọ Tam qui, Ngũ giới, Bát quan trai giới thì nên tu tập thêm thập thiện nghiệp để làm hành trang, tư lương tối thắng cho mình giữa thế gian cát bụi, lắm nghiệt ngã và nhiều khổ đau này.
Và thập thiện nghiệp ấy là gì?

Sự tái sinh - Thích Phước Sơn

imageChính nghiệp, bắt nguồn từ vô minh và khát vọng tạo điều kiện cho tái sinh. Nghiệp quá khứ, tạo điều kiện cho kiếp sống hiện tại và nghiệp hiện tại kết hợp với nghiệp quá khứ làm duyên cho đời sống tương lai. Hiện tại chỉ là con đẻ của quá khứ, và đến lượt nó - lại là cha mẹ của vị lai.
Bao lâu nghiệp lực còn thì còn tái sinh, vì chúng sinh chỉ là những biểu hiện hữu hình của nghiệp lực vô hình này. Chết chỉ là chấm dứt tạm thời hiện tượng vô thường này. Đó không phải tiêu diệt hoàn toàn cái được gọi là sinh linh này. Đời sống hữu cơ đã kết thúc, nhưng nghiệp lực đã thúc đẩy đời sống từ trước đến giờ vẫn chưa bị hủy diệt. Vì nghiệp lực hoàn toàn không bị chi phối bởi sự tan rã nhục thân tạm bợ này, nên sự ra đi của kiết sinh thức trong hiện tại chỉ tạo điều kiện cho một thần thức mới tái sinh một đời sống khác.

HỎI ĐÁP VỚI NHÀ SƯ AJAHN CHAH - Jack Kornfield

HỎI ĐÁP VỚI NHÀ SƯ AJAHN CHAH
Jack Kornfield
Hoang Phong chuyển ngữ


Vài lời ghi chú của người dịch
           Các câu hỏi và lời giải đáp được chuyển ngữ dưới đây là do Jack Kornfield ghi chép trong một buổi giảng của nhà sư Ajahn Chah vào một mùa kiết hạ cách nay cũng đã hơn 40 năm tại ngôi chùa Wat Nong Pa Pong trong một khu rừng ở miền đông-bắc nước Thái.
          Jack Kornfield là một người Mỹ sinh năm 1945, đỗ tiến sĩ tâm lý học trị liệu năm 1967, ngay sau đó đã gia nhập tổ chức thiện nguyện Peace Corps và đã được gửi đi Thái Lan trong một chương trình giúp đỡ những người nghèo khó sinh sống dọc bờ sông Mê Kông. Trong dịp này ông đã gặp Ajahn Chah và trở thành đệ tử của nhà sư này. Ông được thụ phong tỳ kheo và tu tập ở Thái Lan trong nhiều năm, sau đó ông sang Miến Đìện để tu học thêm với nhà sư Mahasi Sayadaw và cũng đã đến Ấn Độ để tìm hiểu thêm về Phật Giáo. Trở về Mỹ năm 1972, ông thành lập trung tâm Insight Meditation Society ở tiểu bang Massachusetts. Năm 1981 ông thành lập trung tâm Spirit Rock Center dạy thiền Vipassana tại tiểu bang California. Ông thuyết giảng khắp nơi trên thế giới. Các sách của ông đã được dịch ra 20 thứ tiếng và bán được hàng triệu quyển.

Chúng ta phải thực hành Giáo Pháp như thế nào? - Ven. K. Sri Dhammananda


Phật Giáo được thực hành tại nhiều nước Á Ðông dưới nhiều hình thức, sự khác biệt  là do bởi những tín đồ là con cháu của những người lập nghiệp ban đầu đến từ Trung Hoa, Thái Lan, Miến Ðiện, Sri Lanka, Ấn Ðộ, v.v... Cũng có nhiều người đơn giản tự gọi mình là "Phật tử" và thực hành một số nghi lễ mà họ học được từ cha ông dưới danh nghĩa của tôn giáo này.
Ngày nay chúng ta có các Phật tử theo truyền thống Nguyên thủy, Ðại thừa, Kim cang thừa, theo truyền thống Trung Hoa, Thái Lan, Miến Ðiện, Sri Lanka, Tây Tạng, Nhật Bản và Ấn Ðộ. Cũng có một số người chấp nhận theo "Phật giáo Tây phương". Một số niềm tin và cách thực hành của họ được pha trộn gồm các niềm tin và sự thực hành của tôn giáo khác, rất xa lạ với tinh thần của Giáo pháp nguyên thủy. Tuy vậy, những niềm tin và phương pháp thực hành này vẫn được chấp thuận do sự khoan dung.

Niết Bàn là SỰ DIỆT KHỔ MÃI MẢI - Piyadassi Thera

Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa của Sự Diệt Khổ (Dukkha-Nirodha) mà thường được hiểu là Niết bàn. Nghĩa theo từ nguyên của Nirvàna (Sanskrit) được giải thích là ni + vàna, thoát khỏi tham ái, dứt trừ tham ái, hoặc nir + và, ngừng thổi hay bị dập tắt.
Mặc dù những ý nghĩa theo từ nguyên của Pàli và Sanskrit này có thể giúp chúng ta hiểu được danh từ, nhưng nó không giúp chúng ta chứng nghiệm được hạnh phúc của Niết bàn. Sự chứng đắc, như chúng ta sẽ thấy trong phát xuất từ Giới (Sìla), Ðịnh (Samàdhi) và Tuệ (Pannà). Niết bàn là một Pháp (Dhamma), một kinh nghiệm rất khó có thể giải thích vì tính chất tế vi của nó. Niết bàn thường được hiểu là pháp siêu thế (Lokuttara), tuyệt đối, vô vi (Asamkhata). Niết bàn được bậc trí chứng đắc, tự mỗi người ngộ lấy cho chính mình.

CON ĐƯỜNG GIÁC NGỘ -- PHIM PHẬT GIÁO VIETNAM

CON ĐƯỜNG GIÁC NGỘ
PHIM PHẬT GIÁO
Published on Dec 9, 2013
Chùa Hoằng Pháp Phát Hành, trọn bộ 4 DVD, có phụ đề Tiếng Anh.
Đạo diễn: Công Hậu English Subtitle.

Tập 1

VỊ TRÍ CỦA THIỀN QUÁN TRONG TU TẬP PHẬT GIÁO - Thanissaro Bhikkhu

VỊ TRÍ CỦA THIỀN QUÁN TRONG TU TẬP PHẬT GIÁO
(A Tool Among Many: The Place of Vipassana in Buddhist Practice )
Tác  giả: Thanissaro Bhikkhu
Việt dịch : Trần Như Mai


Đôi nét về tác giả : Tỷ Kheo Thanissaro ( Geoffrey Degraff, 1949 -  ) là một nhà sư Phật giáo người Mỹ, theo truyền thống khổ hạnh Sơn Lâm của Thái Lan ( Thai Forest Tradition). Sau khi tốt nghiệp Đại học Oberlin College năm 1971 về ngành Lịch Sử Tri Thức Âu châu, sư du hành đến Thái Lan và học Thiền dưới sự hướng dẫn của Ajahn Fuang Jotiko, Sư Jotiko là đệ tử của ngài Ajahn Lee. Sư Thanissaro xuất gia năm 1976 và tu học tại chùa Wat Dammasathit, và vẫn ở lại  chùa này sau khi sư phụ viên tịch vào năm 1986. Vào năm 1991, sư du hành đến các vùng đồi núi của San Diego County ( Hoa Kỳ), và giúp Ajahn Suwat Suwaco thành lập Chùa Wat Mettavanaram ( Metta Forest Monastery). Sư được chọn làm  trụ trì của chùa này vào năm 1993. Sư Thanissaro đã xuất bản nhiều tác phẩm và dịch phẩm, gồm có các cuốn cẩm nang tu thiền của Ajahn Lee dịch từ tiếng Thái sang tiếng Anh : Handful of Leaves ( Một Nắm Lá , là một hợp tuyển kinh tạng Pali gồm 4 tập ); ( The Buddhist Monastic Code (Luật Lệ Tu Viện Phật Giáo,  là cẩm nang tham khảo của tăng sĩ , gồm  hai tập); Wings to Awakening ( Cánh Cửa Giải Thoát, là một hợp tuyển kinh tạng Pali);  đồng tác giả của bộ sách giáo khoa trình độ đại học là Buddhist Religions: A Historical Introduction (Lịch Sử Phật Giáo Nhập Môn ); The Mind Like Fire Unbound ( Tâm Như Lửa  Cháy Bùng ); The Paradox of Becoming ( Sự Mâu Thuẫn của Hữu); The Shape of Suffering (Sự Hình Thành của Khổ ); Dhammapada : A Translation ( Bản Dịch Kinh Pháp Cú ); Skill in Questions ( Kỹ Năng Đặt Câu Hỏi)… và Collections of Essays on Buddhist Practice  (Tuyển Tập các Bài Luận về Tu Tập Phật Giáo) cũng như hằng trăm bài pháp thoại đã được phiên tả và xuất bản…Hiện nay Tỷ Kheo Thanissaro vẫn là Trụ trì Tu viện Metta Forest Monastery ( San Diego, Hoa Kỳ).

Lời di huấn sau cùng của Đức Phật


Dưới đây là tóm tắt những lời dặn dò cuối cùng của Phật. Thật ra Phật đã đau yếu từ ba tháng trước và đã khởi sự dặn dò người đệ tử thân cận nhất là A-nan-đà. Phật bảo A-Nan-Đà tập họp các đệ tử để nghe giảng và thông báo trước sự tịch diệt của mình. Lúc ấy Phật đã 80 tuổi. Trong những tháng cuối cùng, Phật đã gầy còm và mệt mỏi, nhưng vẫn đi thuyết giảng như thường, tuy không còn đi xa được nữa. A-Nan-Đà xin Phật hãy tĩnh dưỡng trong những ngày còn lại, nhưng Ngài khoát đi và dạy rằng :

GIỚI ĐỊNH TUỆ của BÁT CHÁNH ÐẠO _ Piyadassi Thera

Trước khi nhập diệt (Niết bàn) Ðức Phật cho gọi các hàng đệ tử lại và căn dặn: "Pháp và Luật (Dhamma vinaya) Như Lai đã giảng giải và ban hành cho các con, sau khi Như Lai diệt độ, chính Pháp và Luật này sẽ là Ðạo Sư của các con[1]".
Từ lời di huấn này, chúng ta thấy rõ rằng đường lối tu tập của Ðức Phật, hệ thống Tôn giáo của Ngài, bao gồm Pháp và Luật. Luật hàm ý sự toàn hảo về phương diện đạo đức, chế ngự những hành động của thân và khẩu, phép tắc cư xử trong đạo Phật. Tất cả những điều này thường được gọi là Sìla (giới) hay học giới, pháp đề cập đến việc tu tập tâm, chế ngự tâm, đó là thiền hay sự phát triển Ðịnh Tâm (Samàdhi) và Trí Tuệ (Pannà). Ba phần Giới, Ðịnh và Tuệ này là những lời dạy căn bản nếu được tu tập một cách thận trọng và trọn vẹn sẽ nâng con người từ thấp lên cao; đưa họ từ bóng tối ra ánh sáng, từ tham dục đến xả ly, và từ loạn động đến tịnh lặng.

Truyện về đức Phật Thích Ca qua tranh vẽ

Họ Ngài là Thích Ca, một chi nhánh của họ Kiều Tất La, là một quý tộc.  Còn Mâu Ni là đức tính trong sạch, vắng lặng của Ngài, chỉ là tiếng để khen ngợi.
 

Thiền - phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc (Lương y Võ Hà)

Đức Phật được tôn xưng là một vị Đại Y Vương vì Ngài đã vạch ra được những con đường giúp con người thoát ra khỏi vòng sinh, lão, bệnh, tử.
Đức Phật được tôn xưng là một vị Đại Y Vương vì Ngài đã vạch ra được những con đường giúp con người thoát ra khỏi vòng sinh, lão, bệnh, tử.

Lời Phật dạy


Lời Phật dạy về việc ca hát của tứ chúng



Này các tỳ-khưu, đây là năm điều bất lợi khi ngâm nga giáo pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài.

Này các tỳ-khưu, không nên ngâm nga giáo pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài; vị nào ngâm nga thì phạm tội dukkata (tác ác) – (Luật tạng, Tiểu phẩm).

1. Cư sĩ tại gia

Đối với người cư sĩ tại gia nguyện giữ 5 giới căn bản, ca hát không là vấn đề. Đức Phật không ngăn cấm người cư sĩ ca hát, sử dụng âm nhạc. Điều quan trọng là gìn giữ tâm ý, không để lôi cuốn, loạn động bởi âm thanh qua bài ca, tiếng hát, nhạc điệu. Âm nhạc và ca hát – đối với hàng cư sĩ – nếu biết sử dụng khéo léo, đúng thời, đúng mục đích, là một phương tiện truyền thông tốt trong các sinh hoạt Phật giáo.

Nghệ thuật giao tiếp trong kinh điển Phật giáo - Chúc Phú


NSGN - Chính phải đàm đạo mới biết được trí tuệ của một người, và phải trong một thời gian dài không thể khác được1. Sự khẳng định của câu kinh vừa nêu đã đồng thời cho thấy, quá trình trao đổi thông tin giữa người với người mà thuật ngữ chuyên ngành hôm nay gọi là nghệ thuật giao tiếp, đã được ghi nhận và lưu tâm từ thời Đức Phật. Với Phật giáo, việc giao tiếp giữa các cá nhân nhằm truyền đạt thông tin là điều rất mực quan trọng, nhất là những thông tin liên quan đến lộ trình khai phóng tâm linh và đoạn tận đau khổ.

Mẫu hình người cư sĩ lý tưởng - Chúc Phú

NSGN - Cư sĩ là người đã quy y Tam bảo. Đó là điều được xác tín trong cả kinh điển Bắc truyền và Nam truyền(1) Trong những chúng đệ tử Phật, thì chúng cư sĩ tại gia chiếm số lượng đông đảo và có những ảnh hưởng nhất định đối với diện mạo của Phật giáo nói chung. Khảo sát từ kinh tạng và qua cuộc đời của những vị cư sĩ tiêu biểu thời Phật cho thấy, mẫu hình người cư sĩ lý tưởng được Đức Phật đề cập khá cụ thể và chi tiết. Theo khảo sát, một người cư sĩ lý tưởng phải hoàn thiện bốn phẩm chất cơ bản: Ổn định về kinh tế; trang nghiêm về giới hạnh; thăng bằng và điều hòa; hộ pháp và hoằng pháp.

Ý nghĩa của “niết bàn” theo quan điểm Phật giáo

Theo quan điểm siêu hình thì Niết bàn là giải thoát khỏi đau khổ.
Theo quan điểm tâm lý học thì Niết bàn là xóa bỏ tự ngã. Theo quan điểm đạo đức thì Niết bàn là diệt tham, sân và si.
Quá trình sinh tử này tiếp tục vô tận cho đến khi chuyển hóa thành cảnh giới Niết bàn: cứu cánh của các Phật tử.

Cảm xúc thiền để đạt được giác ngộ cao nhất



Thiền và cảm xúc có một mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình tu tập, chuyển hoá tâm cho đến khi đạt được mục đích giác ngộ và giải thoát.

Thiền, có xuất xứ từ Ấn Độ cổ đại, được xem là một phương pháp giáo dục con người một cách toàn diện, hướng con người đến chân – thiện – mỹ, rèn luyện con người phát triển thể lực và trí lực một cách hài hoà và tốt đẹp. Giá trị lý luận và thực tiễn của nó càng được khẳng định khi hiện nay trên toàn thế giới, nhất là các nước phương Tây đã và đang quan tâm, và hướng về nó một cách tích cực.

Bí ẩn 7 viên xá lợi của ni cô sau khi viên tịch ở Quảng Ninh

imageKhi viên tịch, ni cô Huệ Tánh, một vị nữ chân tu tại Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm (chùa Cái Bầu, huyện Vân Đồn, Quảng Ninh) đã để lại 7 viên xá lợi lấp lánh. Đây là việc khá hy hữu bởi xá lợi thường được cho là chỉ tìm thấy ở những vị tăng chân tu (nam giới)...
Điều kỳ diệu sau khi viên tịch

Vượt qua quãng đường hơn 200km từ Hà Nội, chúng tôi có mặt tại Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm (chùa Cái Bầu). Ấn tượng đầu tiên với chúng tôi là quy mô hoành tráng và không gian tĩnh mịch của một Thiền viện dành cho các nữ tăng tĩnh tâm tu đạo.

Thiền viện nằm ngoài khu vực dân cư, tránh xa khỏi những ồn ào xô bồ của đời thường, đây cũng có thể coi là điểm đến cuối cùng trong chuyến hành trình tôn giáo về phía Đông Bắc Tổ quốc, qua Yên Tử, đền Cửa Ông, đền Cặp Tiên...

Đời sống lành mạnh - Tiến sĩ Andrew Olendzki

Tiến sĩ Andrew Olendzki, từng được đào tạo tại khoa Nghiên cứu Phật học tại Đại học Lancaster (Anh quốc) cũng như tại Đại học Harvard (Hoa Kỳ) và Đại học Sri Lanka. Hiện tại, ông là Tổng biên tập Tạp chí Minh Sát Tuệ (Insight Journal), Giám đốc điều hành và học giả uy tín tại Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo Barre, tại Barre, Massachusetts. Ông là tác giả của cuốn sách “Tâm Bất Tận” (Unlimiting Mind), một tác phẩm luận giải về tâm lý học thực nghiệm cơ bản của Phật giáo.

Tìm hiểu về Nghiệp - Hòa thượng Silānanda

Nghiệp báo

Nhiều người không sinh ra trong gia đình Phật Giáo, nhưng đã tìm học về Phật Giáo nhờ nghe luật Nghiệp Báo; bởi vì luật Nghiệp Báo đã giải thích cho họ thấy rõ lý do của sự bất đồng của các cá nhân trong xã hội con người, đồng thời cũng giải thích cho họ biết tại sao những người rất tốt trên cõi đời này lại gặp cảnh đau khổ. Tôi có quen một người Ý Đại Lợi. Người này rất băn khoăn thắc mắc về vấn đề bất đồng của các cá nhân trong xã hội. Ông ta suy nghĩ về vấn đề này rất nhiều. Ông tìm hỏi nhiều người về vấn đề này, nhưng không tìm ra câu trả lời thỏa đáng. Một ngày nọ ông đọc được một cuốn sách về Phật Giáo trong đó có nói đến luật Nghiệp Báo. Khi đọc về luật Nghiệp Báo ông ta rất thỏa mãn với những lời giải thích của luật Nghiệp Báo. Ông quyết định tìm hiểu thêm về đạo Phật. Ông sang Á Châu trở thành một nhà sư, và mất ở tuổi tám mươi. Luật Nghiệp Báo là động lực đầu tiên khiến ông trở thành một nhà sư Phật Giáo.

Rợn mình với câu chuyện về kiếp luân hồi của đôi lứa yêu nhau

Các nhà khoa học vẫn chưa hề có lời giải nào chính xác cho những vụ việc bỗng dưng có người tới nhà nhận là người tình kiếp trước. “Lộn kiếp” để bám theo tình cũ

Vào tháng 9 năm 1978, bà Catherine Wright sống ở Texas, Mỹ, gọi điện đến Đại học Virginia xin gặp giáo sư Ian Stevenson, người đang nổi tiếng vì những cuộc khảo cứu hiện tượng luân hồi đương đại. Bà muốn ông kiểm tra xem có đúng Michael, con trai bà, chính là anh bạn trai đã chết đầu thai trở lại như cậu bé nói hay không. Chồng bà thì dứt khoát coi đó là chuyện nhảm nhí, làm sao chấp nhận nổi thằng con vàng ngọc lại chính là “tình địch” của mình?

Tứ niệm xứ - Thiền nội quán Vipassana - Taungpula Kaba-Aye Sayadaw Phaya

Hỡi các hành giả cao thượng! Tại sao các hành (Sankhara) của chúng sanh sinh khởi? Đức Phật dạy rằng các hành của chúng sanh sinh khởi  nguyên nhân là do vô minh và tham ái (avijja và tanha)
"Yaya ca bhikkhave, avijjaya nivutassa Balassa

Yaya ca tanhaya samyuttassa ayam kayo samudagato "

Câu này có nghĩa là này cácTỷ-kheo, bị che lấp bởi vô minh (avijja) kết hợp với tham ái  nên tấm thân của kẻ xuẩn ngốc này hình thành.

Sự quan trọng của Chánh niệm (Kinh Đại Niệm Xứ) - Thiền Sư U Sīlānanda

Vài lời giới thiệu

Từ lâu tôi luôn nghĩ rằng thực hành thiền Minh Sát là thực hành chánh niệm. Tôi nhận xét rằng tất cả những phương pháp hành thiền của những thiền sư hiện đại đều dạy thực hành chánh niệm trong kinh Tứ Niệm Xứ.
Mỗì một thiền sư danh tiếng tự chọn cho mình một “chuyên môn” theo kết quả kinh nghiệm cá nhân, nhưng chung quy vẩn dạy chánh niệm trong thiền Tứ Niệm Xứ hay thiền Minh Sát, hay Vipassana. Hiện nay danh từ Vipassana thường dùng để chỉ thiền Minh Sát, hay Tứ Niệm Xứ, rất phổ thông trong cộng đồng tu thiền.

Vượt qua buồn chán và trầm cảm - Ajahn Jagaro


Vượt qua  buồn chán và trầm cảm xem ra là một chủ đề thú vị. Tất nhiên, bạn chẳng bao giờ biết sau khi vượt qua nó xong,  kế tiếp sẽ là gì - thậm chí kết quả có thể  còn tồi tệ hơn - nhưng tôi chắc chắn rằng hầu hết mọi người đều mong đợi “vượt qua” mang một ý  nghĩa  tốt đẹp hơn.

Bài pháp thoại này chủ yếu là một sự suy niệm dựa trên những kinh nghiệm rất phổ biến của con người mà chúng ta ai cũng có.

Thái Lan: Wat Khunaram và nhục thân bất hoại của ngài Loung Pordaeng

Wat Khunaram (chùa Khunaram) tọa lạc tại phía Tây của Hua Thanon và Tây Nam bãi biển Lamai, ở đảo Koh Samui. Mặc dù Wat Khunaram không phải là một trong những ngôi chùa đẹp và hùng vĩ của Thái Lan, nhưng là nơi đáng để mọi người đến hành hương, chiêm bái vì ở đấy có thờ nhục thân bất hoại của một vị tăng sĩ, vị ấy chính là ngài Loung Pordaeng.

An lạc vượt ngoài thế gian - Ajahn Chah

Thực hành Giáo Pháp là công trình vô cùng quan trọng. Nếu không có pháp hành tất cả hiểu biết của chúng ta chỉ là hiểu biết trên bề mặt, chỉ hiểu biết cái vỏ bề ngoài. Cũng giống như ta đã có một loại trái cây nhưng chưa bao giờ ăn đến. Mặc dầu trái cây sẵn có trong tay, nhưng ta không hưởng lợi ích của nó. Chỉ bằng cách thực sự có ăn, ta mới cảm nhận được mùi vị của trái.
Đức Phật không ca ngợi những ai chỉ tin tưởng suông nơi người khác. Ngài tán dương người hiểu biết bên trong chính mình.

Sống với Pháp trong cuộc đời - Ajahn Chah


Có một số người vẫn chưa hiểu tính chất của sự thực tập Thiền. Họ nghĩ rằng thiền hành, tọa thiền và nghe pháp thoại là thực tập.
Thật là như vậy, nhưng đây chỉ là những thực tập phiến diện, sự thực tập thật ra nằm nơi phần tinh thần, với một đối tượng.  Ðấy mới là sự thực tập thật sự.  Ví dụ khi người ta nói một điều gì đó mà mình không thích thì sự bực dọc, tức tối nổi lên; nếu họ nói gì đó mà ta thích thì ta vui vẻ và đồng lòng.   Và đấy là lúc mà ta cần phải thực tập.  Thực tập như thế nào ?  Ðây mới là vấn đề chính.

Chánh niệm tỉnh giác - Ni sư Ayya Khema

Đó là bốn căn bản chánh niệm: thân thọ tâm và pháp. Chánh niệm là sự thuần chú tâm; không kèm theo phán đoán. Đó chính là sự tỉnh giác hiểu biểt rõ ràng rằng các cảm xúc, tình cảm, tâm hay pháp là thiện hay bất thiện, để giúp chúng ta chuyển hóa.
Trong kinh Sa Môn Quả, Đức Phật còn phải giảng giải cho Potthapàda nhiều điều để tu tập, trước khi chỉ dạy cho ông về phương pháp hành thiền cũng như sự đoạn diệt tăng thượng tưởng. Giờ Đức Phật thuyết về chủ đề chánh niệm và sự hiểu biết rõ ràng (tỉnh giác). Đây là phương cách mà Ngài đã khai triển trong rất nhiều bản kinh: đầu tiên là gìn giữ giới luật, kế đến là kiềm chế các căn, rồi đến chánh niệm và sự hiểu biết rõ ràng (tỉnh giác). Hai điểm sau cùng đi đôi với nhau, thường được nhắc đến cùng lúc. Sati là chánh niệm và Sampajanna là sự hiểu biết rõ ràng.

Vipassana thực tiễn - Bhante Henepola Gunaratana

Có lẽ bạn đã từng được khuyên rằng lúc nào cũng phải nên giữ chánh niệm, cho dù bạn đang ở nhà hay trong văn phòng, hoặc ở  trên xe buýt,  trong xe ô tô của bạn hoặc trong xe ô tô của người khác , v.v…
Bạn có thể hiểu ý của lời khuyên này là muốn lúc nào  bạn cũng  phải giữ sự chú tâm vào hơi thở của mình.

Trong khi lái xe , nếu chỉ đơn thuần  giữ sự chú tâm vào hơi thở,  bạn có thể sẽ gặp phải một  số vấn đề, chẳng hạn như không chú ý đến việc lái xe hoặc  bạn quên mình đang lái xe và có thể gặp tai nạn.

Quán sát nội tâm - Upasika Kee Nanayon

Tóm tắt Pháp hành

Phương pháp thực hành này rất dễ học, có ngay kết quả, và thích hợp ở mọi lúc, mọi nơi, và cho mọi lứa tuổi, cả nam lẫn nữ. Đó là sự thực hành ngay nơi thân này –cái thân cao dài hơn một sải– do tâm làm chủ.
Thân này sở hữu rất nhiều thứ, từ thô đến tế, rất đáng cho chúng ta tìm hiểu.
Những ai muốn thực hành Pháp này cần tự tu tập để biết các tiến trình sau đây:

Minh Sát Thiền do Ngài Mahasi Sayadaw truyền dạy - Viên Giác dịch

Minh Sát Thiền do Ngài Mahasi Sayadaw truyền dạy

  Pháp hành Minh Sát Thiền là nỗ lực để hiểu một cách đúng đắn bản chất hiện tượng tinh thần và thể lý trong thân thể người tu tập. Hiện tượng thể lý là những việc hay vật mà người tu nhận thức một cách rõ ràng quanh mình và bên trong mình. Toàn thể thân xác người tu gồm một nhóm các phẩm chất thể lý. Hiện tượng tinh thần là họat động của ý thức hay cái biết. Những điều này được nhận thức một cách rõ ràng bất cứ khi nào các pháp được nhìn thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, hay được nghĩ tới. Chúng ta phải tỉnh thức về các hiện tượng tinh thần này bằng cách quan sát chúng và ghi nhận [niệm về] chúng như: "[đang] thấy, thấy", "nghe, nghe", "ngửi, ngửi", "nếm, nếm", "sờ, sờ", hay "nghĩ, nghĩ".

Hướng dẫn hành thiền - Ajahn Chah

Có một số đọc giả gửi email thắc mắc về việc hành thiền (định và quán), hoặc có thể tu quán mà không nhập thiền được không?  v.v và v.v…
Sau tìm đọc một số tài liệu, Supanna Thiện Trí nhận thấy bài giảng của ngài Ajahn Chah có thể đáp ứng được thắc mắc chung của qúy đọc giả nên đã dịch ra để gửi đến bạn đọc. Với lối giảng dạy giản dị nhưng sinh động cùng với kinh nghiệm thực chứng, bài giảng của ngài có thể như là một bản phác thảo rõ ràng về Con Đường. Hy vọng qúy đọc giả quan tâm đến Pháp hành sau khi đọc xong bài này có thể hình dung được  con đường  đi đến Giải thoát – Níp – bàn như thế nào và vững tin với Pháp hành mà mình đã chọn.

Hãy tự mình tu tập! - Bhante Henepola Gunaratana

Đại đức Ananda, thị giả của Đức Phật, đã phục vụ Đức Phật trong suốt 25 năm.  Đã nhiều lần,  Đức Phật yêu cầu ngài hãy cố gắng phấn đấu để đạt được sự Giác ngộ.
Đại đức Ananda tinh thông các Pháp và mọi lý thuyết về thiền tập.  Tuy nhiên, do ngài hoan hỷ trong việc  phục vụ cho Đức Phật và Tăng chúng,  ngài đã lờ đi mục tiêu Giác ngộ cho chính bản thân  mình  cho đến khi -  cuối cùng -  do áp lực rất lớn từ 499 vị A-la –hán, những vị được triệu tập cho cuộc kiết tập Kinh điển đầu tiên.

Thiền quán và bốn sự thật cao diệu - Thiền sư Mahasi Sayadaw


Chân lý mà chúng ta phải thực chứng là chân lý có liên quan đến Tứ Diệu Đế, Bốn Sự Thật Cao Diệu. Đó là: (1) Sự Thật về Khổ (Khổ đế), (2) Sự Thật về Nguồn Gốc của Khổ (Tập đế), (3) Sự Thật về sự Diệt Khổ (Diệt đế), và (4) Sự Thật về Con Đường đưa đến Diệt Khổ (Đạo đế).

Sự thật về Khổ có liên quan đến bản chất của năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Theo Kinh Chuyển Pháp Luân, chúng ta phải thấu triệt sự khổ nầy để thông hiểu một cách đúng đắn.

Bí mật của hơi thở - Bhante Henepola Gunaratana

Tối nay, tôi sẽ trình bày về một sự việc rất đơn giản và thực tế, và tuy vậy rất ít người quan tâm đến nó. Tôi muốn nói về sự bí mật của hơi thở, về sự thật ẩn mình trong hơi thở. Mặc dù chúng ta thở suốt cả đời mình, chẳng mấy ai trong số chúng ta quan tâm nhiều đến hơi thở, để có thể khám phá sự thật mà hơi thở có thể hiển lộ ra.



Suy nghĩ có bao giờ ngưng không? -- Bhante Henepola Gunaratana


Đức Phật khuyên các Tỳ kheo, “ Này các Tỳ kheo, khi các ông tụ họp với nhau, các ông nên làm một trong hai điều: Thảo luận về Giáo Pháp hoặc quan sát sự im lặng cao quý "

Im lặng cao quý là trạng thái của tâm khi không có sự suy nghĩ. Tâm hoàn toàn im lặng. Suy nghĩ chỉ có thể ngừng nếu chúng ta huấn luyện tâm của chúng ta  làm như vậy thông qua thiền tập đúng cách.

Quán niệm: Phương thuốc hữu hiệu để giảm đau - Tony Bernhard


Tony Bernhard là giáo sư Luật học tại  University of California trong suốt 22 năm kể từ lúc nhận bằng tiến sĩ Luật năm 1982. Từ năm 1992, bà đã bắt đầu nghiên cứu và thực hành Phật giáo.

Bắt buộc phải về hưu sớm vì bệnh mãn tính năm 2004, bà cảm thấy tuyệt vọng và tự dày vò mình vì có cảm tưỡng đã làm tan nát cuộc sống của người bạn đời. Sau khoảng năm sáu năm đau khổ, bà quay lại với thiền quán niệm và nhận ra phương pháp thiền quán niệm là phương thuốc hữu hiệu để giảm đau đớn thể xác.

Chấp nhận chính mình - Ni sư Ayya Khema

Quả là một hiện tượng lạ khi con người thường thấy rất khó để yêu  thương chính bản thân mình, vậy mà chúng ta vẫn thường nghĩ rằng việc này dễ nhất trên đời vì có  ai mà không thường xuyên quan tâm đến chính mình. Lúc nào chúng ta cũng bận tâm đến việc chúng ta làm được bao nhiêu tiền, thành quả công việc của mình tốt đẹp ra sao, chúng ta thấy thoải mái như thế nào. Chẳng phải Đức Phật đã từng dạy rằng: "Chúng sanh yêu chính mình hơn ai hết ” sao? Vậy tại sao chúng ta lại cảm thấy thực sự khó để yêu thương chính mình?

Tâm định và thiền Quán Vipassana - Thiền Sư U Silananda

Tâm Ðịnh là một yếu tố rất quan trọng trong pháp môn thiền Quán Vipassana. Không có tâm Ðịnh, những tuệ Minh sát không thể phát triển, và hành giả không thể thấu suốt được bản chất thật sự của vạn vật, không thể thực chứng được ba đặc tướng vô thường, bất toại nguyện, và vô ngã của Thân Tâm.

Chánh niệm - Henepola Gunaratana


Thiền Quán còn gọi là Thiền Tuệ hay Thiền Minh Sát (tiếng Pali: Vipassana) đã được Đức Phật chỉ dạy cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm, là phương pháp thiền đặc biệt chú trọng vào việc giữ sự chánh niệm liên tục. Chánh niệm, tiếng Anh là ‘Mindfulness’, tiếng Pali ‘Sati’.
Chánh niệm là một tiến trình vi tế mà bạn đang thực hiện ngay thời điểm hiện tại. Khi bạn nhận thức (biết được) một vật gì lần đầu tiên, khi ấy sẽ có một sự ý thức (biết) thuần tuý thoáng qua rất nhanh trước lúc bạn có khái niệm về vật đó, trước lúc bạn nhận dạng ra nó. Chính giai đoạn ý thức (biết) thuần tuý đang trôi chảy đó là Chánh niệm.

Kinh Giới Hạnh - Hòa thượng Thiền Sư Silananda giải


Kinh Giới Hạnh
Silavanta Sutta
Hòa thượng Thiền Sư Silananda
Nita Truitner dịch Việt
Mục Lục
Lời Giới Thiệu
Tiểu Sử Thiền Sư U Silananda
Kinh Giới Hạnh
1. Giới Thiệu Về Ngũ Uẩn
2. Vô Thường
3. Khổ
4. Ba Đặc Tướng
5. Nhập Lưu
6. Phước Báu Và Những Bảo Vật Cao Quý
7. Con Đường Đến Niết Bàn
8. Các Tầng Thánh Đạo Cao Hơn
9. Sự Quan Trọng Của Chánh Niệm
10. Chỉ Dẫn Về Cách Hành Thiền Minh Sát

Quán sát tâm - Sayadaw U Jotika

Chánh niệm là một cách sống. Bất cứ nơi nào mà quý vị đến và bất cứ điều gì mà quý vị làm đều phải được chánh niệm. Suy nghĩ là một cản trở lớn trong chánh niệm. Dĩ nhiên để ghi nhận được những suy nghĩ là điều rất quan trọng và nhìn cái tâm của quý vị với cái tâm không xét đoán hoặc khiển trách. Chỉ nhìn nó một cách thật đơn giản, cũng không có tôi hay ta.

194 câu nói trích từ các bài giảng của ngài Ajahn Chah -Tỳ kheo Khánh Hỷ dịch


Sinh và tử

1. Thực hành tốt đẹp là tự hỏi mình: "Tại sao ta sinh ra?" Sáng, trưa, chiều, tối... mỗi ngày hãy tự hỏi mình câu hỏi đó.
2. Sinh và tử của ta chỉ là một. Bạn không thể có cái này mà chẳng có cái kia. Người ta buồn rầu than khóc khi có ai chết, và vui cười hớn hở khi thấy một đứa trẻ sinh ra đời. Thật si mê và khôi hài làm sao! Nếu muốn khóc, hãy khóc lúc có ai sinh ra. Hãy khóc cái nguyên nhân, khóc cái gốc, vì không sinh ra thì sẽ không chết.