Về môn học Vi Diệu Pháp thì quan trọng nhất là phần Sở hữu tâm (trạng thái của tâm), các kiến thức khác liên quan đến Vi Diệu Pháp có thể không cần biết (như Lộ trình tâm, Duyên hệ....) nhưng kiến thức về Sở hữu tâm thì nên biết vì khi hành thiền Tứ Niệm Xứ, hoặc khi sống trong đời thì chúng ta luôn đối diện với các trạng thái tâm của chính chúng ta và người khác. Đây là bài đọc thêm, các bạn nên tìm hiểu để bổ sung kiến thức về hành thiền quán Tứ Niệm Xứ (thiền minh sát). Chúng ta nên chú ý là chúng ta đọc Vi Diệu Pháp để hiểu Kinh Nikaya chứ chúng ta không nên thực hành thiền theo Vi Diệu Pháp, mà chúng ta thực hành thiền theo Kinh (Kinh Đại Niệm Xứ...). Có một số trường phái thiền minh sát dạy thực hành thiền theo kiểu Vi Diệu Pháp, phân tích, phân biệt danh sắc chân đế lung tung....và kết quả là dẫn đến mơ hồ, trừu tượng, rắc rối, không thực hiện được và đi ngược lại với tính chất cụ thể, thiết thực hiện tại của pháp Giác Ngộ mà Đức Phật truyền dạy. Tuyệt đối không nên như vậy vì Vi Diệu Pháp không phải là Kinh, Đức Phật chỉ dạy Kinh chứ không dạy Vi Diệu Pháp. Phải hết sức cẩn thận như vậy.
Pháp mà Đức Phật nói ra mục đích là để THỰC HÀNH; BÁT CHÁNH ĐẠO phải được thực hành cùng một lúc và tròn đầy thì ĐẠO và QUẢ sẽ trỗi lên khi đủ CHẤT và LƯỢNG.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuệ (Huệ). Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuệ (Huệ). Hiển thị tất cả bài đăng
Giác Ngộ --Thiền sư U Silananda
Vào thời đại bây giờ, nhiều người hay nói về Giác ngộ nhưng Sư không biết là những người này có thật sự hiểu thế nào là Giác ngộ không? Danh từ "Giác Ngộ" có nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo quan niệm riêng của mỗi cá nhân và tôn giáo. Sự Giác ngộ đối với một người theo Thiên Chúa giáo, Hồi Giáo hoặc Phật giáo sẽ không giống nhau. Do đó trước khi đi vào đề tài này, chúng ta cần phải hiểu nghĩa Giác Ngộ là gì trên căn bản giáo lý Nguyên Thủy.
Giác Ngộ là gì? - Phạm Doãn
Chữ “giác ngộ”, tiếng Pali và Sanskrit đều là “Bodhi”. Tiếng Anh là “enlightenment” hay “awakening”[1]. Khi sử dụng tiếng Anh nên gọi là “Buddhist enlightenment” hay “Buddhist awakening” để rõ nghĩa và phân biệt giác ngộ của Đạo Phật với các loại giác ngộ của các giáo phái hay tôn giáo khác.
Trí tuệ trong Đạo Phật - HT. Thích Minh Châu
Mục đích của Đạo Phật là diệt khổ và đem vui cho mọi loài, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạc và hạnh phúc. Mục đích của Đạo Phật là giải thoát và giác ngộ, và chỉ có trí tuệ (Pannà) mới là phương tiện duy nhất đưa loài người đến bờ giải thoát và giác ngộ.
Do vậy giai trò của người có trí và vai trò của trí tuệ chiếm cứ vị trí then chốt trong mọi lời dạy của Đức Bổn Sư chúng ta. Và chúng ta có thể nói Đạo Phật là đạo của người trí, là đạo của tuệ giác để tìm cho được một định nghĩa thỏa đáng cho Đạo Phật.
Tuệ và Giác Ngộ (Phạm Doãn)
Mục Lục
Phần một: Đại cương về Tuệ
I. Thuật ngữ về Tuệ
II. Ý nghĩa của Tuệ
- Ý nghĩa của tuệ trong đời thường
- Ý nghĩa của tuệ trong Đạo Phật
- Tuệ, Wisdom, paññā, prajñā là những từ đồng nghĩa
III. Tu tập tuệ là phương pháp đặc thù riêng của Đạo Phật
IV. Tuệ trong ý nghĩa của tiến hóa tâm linh
- Tuệ của khoa học và tuệ giải thoát
- Từ không đến có
- Tiến hóa sinh vật và tiến hóa tâm linh
V. Tuệ và Giác ngộ có thể mô tả và hiểu được
VI. Bảy mươi ba loại Trí
VII. Mười sáu tuệ minh sát
VIII. Thực hiện Tuệ qua pháp học và pháp hành
- Pháp học (pariyatti)
- Pháp hành (patipatti)
Phần hai: Tuệ phát sinh do tu tập Thiền Định và Tuệ Quán
I. Thiền Định
- Tuệ của thiền định
- Ánh sáng tâm trí
- Các pháp chân đế: 28 loại sắc pháp và các tổ hợp sắc (rupa-kalapa), Sát-na tâm và các lộ trình của tâm
- Sự cần thiết của thiền định
- Đạo Phật sử dụng thiền định như công cụ để thực hiện tuệ quán
- Giải thích một số các chất vấn: Visuddhimagga, Jhana, Cận định, Sát-na định, Ly dục ly ác pháp, định thế gian (hiệp thế) và xuất thế gian (thánh định).
- Mục đích của thiền định để thực hiện cái gọi là “như thực rõ biết”
- Đức Phật đã tu tập thiền định và ca ngợi sự tu tập thiền định
II. Tuệ Quán
- Phương pháp Tuệ Quán (Vipassanā)
- Nguyên lý của Tuệ quán: Thấy như thực (yathābhūtaṁ pajānāti, seeing as it is)
- Thế nào là “hành thâm bát nhã”.
- Mối liên hệ giữa Tuệ Quán và Thiền Định
- Bốn đạo lộ
- Việc kiểm chứng các trải nghiệm trong khi tu tập
- Định và Tuệ trong phương pháp luận khoa học: Quy nạp và Diễn dịch
Phần ba: Tuệ và sự Giác Ngộ của Đạo Phật
I. Đạo Phật thực hiện giác ngộ bằng tri tuệ
- Các tôn giáo và sự thần bí
- Đạo Phật và Trí tuệ
- Hai con đường giác ngộ khác nhau: 31 cõi giới, thiên đàng và Nibbana
II. Tuệ do học hiểu và Tuệ do trải nghiệm
- Tuệ do học hiểu và Tuệ do trải nghiệm
- Tuệ giác ngộ có thể được lưu lại từ kiếp trước
- Năm tôn giả giác ngộ do nghe hiểu hay do thiền quán?
III. Tuệ trong ý nghĩa Giác ngộ của Đạo Phật
- Tuệ là yếu tố trực tiếp đưa tới giác ngộ chứ không phải là giới hạnh
- Tuệ là yếu tố trực tiếp đưa tới giác ngộ chứ không phải sự truyền thừa thần bí
- Tuệ, do trải nghiệm bằng Tuệ quán, trực tiếp đưa tới giác ngộ còn Tuệ do nghe hay đọc chỉ là gián tiếp.
- Chính là Tuệ đưa tới giác ngộ chứ không phải sự tu tập các thiền chứng (Samāpatti) hay Diệt tận Định (Nirodha-samādhi)
IV. Mô tả qui trình tâm khi giác ngộ
- Các giai đoạn và qui trình tâm trong sự giác ngộ
- Lộ trình tâm giác ngộ
V. Thông Điệp về sự tỏa sáng của Đạo Phật trong thế kỉ 21
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CÓ TRÍ TUỆ TRONG ÐẠO PHẬT - Hòa Thượng Thích Minh Châu
Mục đích của Ðạo Phật là diệt khổ và đem vui cho mọi loài, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạc và hạnh phúc.Mục đích của Ðạo Phật là giải thoát và giác ngộ,và chỉ có trí tuệ (Pan~n~à) mới là phương tiện duy nhất đưa loài người đến bờ giải thoát và giác ngộ.
Do vậy vai trò của người có trí tuệ chiếm cứ vị trí then chốt trong mọi lời dạy của Ðức Bổn Sư chúng ta.Và chúng ta có thể nói Ðạo Phật là đạo của người có trí, là đạo của tuệ giác để tìm cho được một định nghĩa thỏa đáng cho Ðạo Phật.
Các Lợi Ích Trong Sự Tu Tuệ - Thanh Tịnh Đạo - Buddhaghosa
(Pannàbhàvanànisamsa-niddesa)
-ooOoo-
Có hàng trăm lợi ích không thể nào nói cho xiết, nhưng vắn tắt là những điểm này:(A) Tẩy trừ các cấu uế đủ loại; (B) Nếm vị ngọt của thánh quả; (C) Có khả năng đạt đến tận diệt; và (D) Xứng đáng được cúng dường, v.v...
Bát nhã theo cái nhìn của Tỳ-kheo Buddhadàsa (Phật Lệ)
Bát nhã theo cái nhìn của Tỳ-kheo Buddhadàsa (Phật Lệ)
- Trí huệ do tu tập có tổ chức
- Giải thoát khỏi thế gian
Giác ngộ (Nina Van Gorkhom, Thiện Minh dịch)
Giác ngộ
-ooOoo-
Chúng ta không thể nào thành đạt sự giác ngộ mà không có tu tập những điều kiện chân chánh. Chúng ta xem trong Tương Ưng Bộ Kinh (V, Mahàvagga, quyển XI, Tương Ưng Dự lưu, chương I, §5, Sàriputta) về 4 điều kiện trở thành một bậc Dự lưu. Kinh nói rõ:
Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sàriputta:
Các Lợi Ích Trong Sự Tu Tuệ (Thanh Tịnh Đạo - Trí Hải dịch)
(Pannàbhàvanànisamsa-niddesa)
-ooOoo-
Phân biệt về Huệ - A-la-hán Ưu-ba-đế-sa (Upatissa)
Hỏi: Thế nào là Huệ? Thế nào là tướng, vị, khởi, xứ, công đức và nghiã của Huệ? Có bao nhiêu công đức mới đắc được Bát-nhã? Có mấy loại Bát-nhã?
Đáp: Tâm ý nhìn sự vật đúng như hiện thấy, đó gọi là Huệ, là Bát-nhã. Lại nữa, như trong A-tỳ-đàm (Abhidhamma, Luận tạng) có nói, khởi ý phân biệt sự ích lợi với sự chẳng ích lợi, khởi lên ý trang nghiêm, đó gọi là Bát-nhã. (Bát-nhã, phiên âm chữ Phạn Prajna, chữ Pàli Panna, dịch nghiã là Trí huệ.)
Thế nào là Bát-nhã?
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)