Hiển thị các bài đăng có nhãn Các Pháp Chân Thật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Các Pháp Chân Thật. Hiển thị tất cả bài đăng

NHƯ LÝ TÁC Ý (YONISO MANASIKĀRA) - Nguyên Kim và Như Thủy

NHƯ LÝ TÁC Ý 
Nguyên Kim

Như lý tác ý (Yoniso manasikàra) hay còn gọi là như lý khởi tư duy là một thuật ngữ Phật học dùng để nói về cách nhìn sự vật hay hiện tượng một cách đúng đắn theo quan niệm của đạo Phật. Nó là một trạng thái của tâm thức dấy khởi do duyên sự tiếp xúc giữa các căn và các trần (các giác quan và các đối tượng tương ứng) đưa đến sự hiện hành của dòng tư duy hay chuỗi tư tưởng.

HỘ TRÌ CÁC CĂN (tác giả Giác Hạnh Hiếu)


Hộ trì các căn (Indriyesu guttadvàro) hay phòng hộ các giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) là một trong các biện pháp tu tập căn bản của đạo Phật, có công năng giúp ổn định tâm thức, không để tâm bị kích động chuyển biến chạy theo ngoại cảnh khiến tăng trưởng tham-sân-si. Thông thường, tâm không đứng yên một chỗ; nó hết nhảy theo đối tượng này lại chạy theo đối tượng khác trong thế giới của những ý tưởng và cảm thức biến loạn. Do duyên sự tiếp xúc giữa các căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và các trần cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) mà tâm bắt đầu hiện khởi và chuyển biến tùy theo đối tượng mà nó cảm thấy thích thú hoặc không thích thú.

Các đoạn Kinh Nguyên thủy về 37 phẩm hỗ trợ giác ngộ




 - Này các Tỳ-khưu, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các ngươi, các ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài trời và loài người.

Này các Tỳ-khưu, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài trời và loài người?

Đó chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Như ý túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề phần, Tám Thánh đạo phần. Này các Tỳ-khưu, chính những pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài trời và loài người. 

Nền tảng Phật Pháp - Tứ Diệu Đế - TK Sīlānanda


Tứ Diệu Đế hay Bốn Chân Lý Cao Thượng hoặc Bốn Sự Thật Cao Thượng là những lời dạy vô cùng quan trọng trong toàn bộ giáo pháp của Đức Phật. Những lời dạy của Đức Phật trong bốn mươi lăm năm truyền bá Giáo Pháp có thể tóm gọn trong Bốn Chân Lý Cao Thượng. Bởi vậy Bốn Chân Lý Cao Thượng là một đề tài rất quan trọng. Trước khi tìm hiểu sâu xa hơn về Bốn Chân Lý Cao Thượng, chúng ta cần phải hiểu nghĩa chữ Chân Lý theo giáo pháp của Đức Phật.

Chân Lý là sự thật, vậy cái gì có thật là Chân Lý, chỉ đơn giản thế thôi. Vậy cái gì có thật, cái gì không ngược lại tình trạng có thật của nó là Chân Lý, là Sự Thật.

Nền tảng Phật Pháp - Bát Chánh Đạo - TK Sīlānanda


Bây giờ chúng ta hãy phân tích từng yếu tố một của Bát Chánh Đạo. Có tám yếu tố trong Bát Chánh Đạo. Đó là Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định.

1.    Chánh Kiến

Kết quả hình ảnh cho bát chánh đạoChánh Kiến là gì? Trước hết, chúng ta phải hiểu rằng: tám yếu tố được gọi là con đường đi đến nơi chấm dứt khổ vào lúc Giác Ngộ, vào lúc đạt đạo (magga). Như vậy Chánh Kiến có nghĩa là hiểu biết về Khổ, hiểu biết về nguyên nhân của khổ, hiểu biết về sự chấm dứt khổ, và hiểu biết về con đường đi đến nơi dứt khổ. Nhưng trong những kinh sách khác, bạn có thể hiểu Chánh Kiến bao gồm cả hiểu biết Lý Duyên Sinh (Paticca samupāda), và hiểu biết bản chất thật sự của sự vật v.v... Bởi vì Chánh Kiến bao gồm cả hai khía cạnh Thế Tục và Siêu Thế. Về Thế Tục thì Chánh Kiến bao gồm cả hiểu biết luật Nghiệp Báo, hiểu biết bản chất thật của Vật Chất và Tâm qua Thiền Minh Sát v.v... Nhưng theo nghĩa giải thích trong Kinh Đại Niệm Xứ thì Chánh Kiến là hiểu biết Bốn Chân Lý Cao thượng.

Nền tảng Phật Pháp - Nghiên cứu về Nghiệp - TK Sīlānanda



Trong bài này sẽ nói rõ:
  1. Nghiệp là gì?
  2. Nguyên nhân tại sao?
  3. NGHIỆP CHỨA Ở ĐÂU?
  4. NHỮNG GÌ KHÔNG PHẢI LÀ NGHIỆP?
  5. CÓ THỂ BIẾN CẢI QUẢ CỦA NGHIỆP KHÔNG?
  6. NHỮNG HIỂU BIẾT SAI LẦM HAY TÀ KIẾN VỀ KAMMA (NGHIỆP)
  7. MỘT SỐ CÂU HỎI LIÊN QUAN ĐẾN NGHIỆP
  8. LỢI ÍCH CỦA SỰ HIỂU BIẾT LUẬT NGHIỆP BÁO
  9. CÁC LOẠI NGHIỆP (Phân loại nghiệp) 


Nền tảng Phật Pháp - Lý Duyên Sinh = 12 Nhân Duyên - TK Sīlānanda


Lần trước tôi đã nói đến luật Nghiệp Báo. Luật Nghiệp Báo là một phần của Luật Nhân Quả. Hôm nay tôi sẽ nói đến một phần khác của Luật Nhân Quả, đó là Lý Duyên Sinh.

Về Luật Nhân Quả, có ba quan niệm được nêu ra:

Hình ảnh có liên quan1.     Tất cả sự vật dù là sinh vật hay những vật vô tri đều được tạo ra bởi Thượng  Đế hay Phạm Thiên.

2.    Sinh vật hay vật vô tri phát sinh tự nhiên không có nhân nào cả. Có nghĩa là chúng khởi sinh và hoại diệt không do nhân nào cả.

3.      Sinh vật hay vật vô tri không do ai tạo ra cả, cũng chẳng phải không do nguyên nhân nào tạo ra cả; nhưng mọi sự vật khởi sinh do nhiều nguyên nhân và nhiều điều kiện. Đây là quan kiến của Phật giáo.

Luật Duyên Sinh dạy cho chúng ta biết rằng: không có gì độc lập một mình. Mọi sự vật đều có liên hệ, và mọi sự vật đều tùy thuộc vào một số sự vật khác để phát sinh.

Nền tảng Phật Pháp - CÁC HẠNG CHÚNG SINH TRÊN ĐƯỜNG GIẢI THOÁT -TK Sīlānanda


Hình ảnh có liên quanCÁC HẠNG CHÚNG SINH        
TRÊN ĐƯỜNG GIẢI THOÁT:     
A. Puthujjāna (Người thế tục)
1.  Andha puthujjana (người thế tục mù lòa): 
2.  Kalyāṇa puthujjana (người thế tục hiểu biết)
3. Bodhisatta (Bồ Tát)  
B. Ariya: (Bậc Giác Ngộ)   
1.  Sotāpanna: Tu Đà Hoàn 
2. Sakadāgāmī: Tư Đà Hàm  
3.  Anāgāmī: A Na Hàm (Bất lai)  
4.  Arahant: A La Hán
5.  Pacceka Buddha: Phật Độc Giác       
6.  Phật Toàn Giác   


Nền tảng Phật pháp - Hiểu vê Vô Ngã - Tỳ kheo Silananda


Kết quả hình ảnh cho vô ngãHôm nay chúng ta học một đề tài quan trọng trong Phật Giáo. Đó là thuyết Vô Ngã Anatta. Thuyết Vô Ngã chỉ tìm thấy trong Phật Giáo. Thuyết Vô Ngã khiến cho Phật Giáo khác hẳn các tôn giáo khác. Bởi vì hầu hết các tôn giáo khác đều có sự tin tưởng ngược hẳn với thuyết Vô Ngã (Anatta). Thuyết Vô Ngã là thuyết nòng cốt hay thuyết cốt yếu của Phật Giáo. Điều quan trọng trước tiên là chúng ta phải hiểu thuyết Vô Ngã bằng lý thuyết. Sau đó phài thực hành Thiền Minh Sát mới hiểu thấu đáo hơn. Đức Phật thuyết bài pháp Vô Ngã cho năm người học trò đầu tiên. Sau khi thuyết bài pháp đầu tiên "Chuyển Pháp Luân" cho các thầy Kiều Trần Như, năm ngày sau Đức Phật mới thuyết bài pháp Vô Ngã Tướng. Sau khi nghe và thực hành, năm thầy Kiều Trần Như đắc quả A La Hán.

NHÂN QUẢ - NGHIỆP BÁO (Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

Nhân quả nghiệp báo rất quan trọng. Người học Phật không dễ gì nắm bắt định luật này cho thấu đáo nếu không nghiên cứu, học hỏi và chiêm nghiệm sâu xa.
Điều đầu tiên chúng ta phải biết là nhân quả khác, nghiệp báo khác. Có khi có nhân quả mà không có nghiệp báo. Định luật nhân quả là tất yếu, ta không thể chấm dứt nó được. Nhưng nghiệp báo thì ta có thể thay đổi hoặc chuyển nó được. Nói thế, ta cũng không loại trừ khả năng, nghiệp báo có thể nặng hơn hoặc làm cho nó giảm nhẹ đi, tùy duyên, căn cơ và sự tu tập của từng người quyết định.

BỐN LẬU HOẶC (Cattāro āsava) - Minh Đức Triều Tâm Ảnh



Kết quả hình ảnh cho lậu hoặcCó bốn dòng nước đen điu, bẩn thỉu chảy tràn, len lỏi khắp các cõi, nó không ngừng tươm rỉ những chất độc hại, dơ uế làm ô nhiễm tâm trí của chúng sanh: Đó là Dục Lậu, Hữu Lậu, Kiến Lậu và Vô Minh Lậu.

Tất cả chúng sanh bị trầm luân, trôi dạt, bị thống khổ, đoạ đày trong ba cõi, sáu đường; bị mê mờ, lặn hụp trong biển đen sinh tử không thấy bến bờ là do bị chi phối bởi Bốn Lậu Hoặc này. Chúng hiện đang có mặt khắp nơi, hoá trang nhiều khuôn mặt, phân thân trọng mọi lãnh vực sinh hoạt của thế gian, không dễ gì thấy biết. Vậy, phàm người học Phật, tu Phật thì phải nhận diện chúng, thấy rõ chúng để chúng không còn tác oai, tác quái, mê hoặc chúng ta trong nhiều đời kiếp nữa.

TỨ VÔ LƯỢNG TÂM - Minh Đức Triều Tâm Ảnh



Tứ vô lượng tâm là bốn tâm vô biên, vô lượng, không có ngần mé, bao trùm tất cả chúng sanh. Tứ vô lượng tâm còn được gọi là bốn phạm trú (1) vì khi tu tập thành tựu bốn tâm này rồi, sẽ cùng ở chung (cộng trú) với Phạm thiên, sẽ có đời sống phẩm hạnh cao cả, thanh tịnh (2).
Tứ vô lượng tâm đó là: Tâm từ (mettā), tâm bi (karuṇā), tâm hỷ (muditā) và tâm xả (upekkhā). Chúng chính là bốn đề mục (đối tượng, công án) để tu tập thiền định Sắc giới, tức là thành tựu các trạng thái tâm thanh cao, lìa bỏ đời sống dục vật chất. Nói cách khác, bốn tâm vô lượng này sẽ không được an trú nếu như các trạng thái tâm tham, sân, các tâm sở bất thiện cũng như các triền cái chưa được yên lặng.
Tứ vô lượng tâm chỉ thật sự có mặt trong nội tâm của người khéo tu tập, tinh cần và miên mật công phu thiền định vậy.

TỨ DIỆU ĐẾ __ Minh Đức Triều Tâm Ảnh

blankTứ Diệu Đế hay Tứ Thánh Đế (ariya sacca) tức là bốn sự thât rốt ráo về khổ, về nguyên nhân khổ, về diệt khổ, về con đường diệt khổ.
Phạn ngữ sacca có nghĩa là đế, sự thật, chân lý; tức là cái gì thực sự có, là sự thật không thay đổi. Ariya là cao thượng, cao cả, vi diệu. Do vậy, ariyasacca là chân lý cao cả, là sự thật thù thắng, như chân như thật không bị không thời gian chi phối, biến đổi.
Tứ Diệu Đế này là nền tảng của giáo lý, là cốt tuỷ của giáo pháp, được đức Phật chứng ngộ trong đêm Thành Đạo và tuyên thuyết ở trong kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattanasutta) ở Vườn Nai để độ cho 5 ngài Koṇḍañña, Vappa, Bhaddiya, Mahānāma và Assaji.

BÁT CHÁNH ĐẠO - Minh Đức Triều Tâm Ảnh (tỳ kheo Giới Đức)


blankChúng ta quen gọi là Bát Chánh Đạo, nhưng thật ra, cụm từ Pāḷi nghĩa là Bát Đạo (Aṭṭhaṅgikamagga) hay Bát Thánh Đạo (Ariyaṭṭhaṅgikamagga); tất cả chúng đều chỉ Sự Thật Về Con Đường Đi Đến Nơi Diệt Khổ (Dukkha Nirodhamaggasacca), tức là Đạo Đế. Nó có 8 chi phần: Chánh Kiến (sammādiṭṭhi), Chánh Tư Duy (sammāsankappa), Chánh Ngữ (sammāvāca), Chánh Nghiệp (sammākammanta), Chánh mạng (sammā-ājīva), Chánh tinh tấn (sammāvāyāma), Chánh Niệm (sammāsati), Chánh định (sammāsamādhi).

Tam Pháp Ấn: VÔ THƯỜNG, KHỔ, VÔ NGÃ - Hòa thượng Viên Minh

 Vô thường, khổ và vô ngã được gọi là Tam Pháp Ấn, tức là 3 ấn tướng hay 3 yếu tính trong cùng một pháp chứ không phải là 3 thành phần riêng biệt với nhau. Vì vậy chỉ cần thấy được một trong ba tính chất này tức là đã thấy được thực tính pháp, nên ngay đó liền thấy được hai tính chất còn lại, chứ không phải thấy yếu tính này xong rồi mới tìm hiểu yếu tính kia.
Khi nói đến Vô Thường, Khổ, Vô Ngã thì chúng ta cần lưu ý, đó là nói đến bản chất tự nhiên của pháp, hay nói đến nhận thức của mình về bản chất ấy. Thường thì người ta nhầm lẫn giữa nhận thức của mình về khái niệm (chế định) vô thường, khổ, vô ngã với bản chất thật (thực tính) của pháp.

Tìm hiểu về Nghiệp - Hòa thượng Silānanda

Nghiệp báo

Nhiều người không sinh ra trong gia đình Phật Giáo, nhưng đã tìm học về Phật Giáo nhờ nghe luật Nghiệp Báo; bởi vì luật Nghiệp Báo đã giải thích cho họ thấy rõ lý do của sự bất đồng của các cá nhân trong xã hội con người, đồng thời cũng giải thích cho họ biết tại sao những người rất tốt trên cõi đời này lại gặp cảnh đau khổ. Tôi có quen một người Ý Đại Lợi. Người này rất băn khoăn thắc mắc về vấn đề bất đồng của các cá nhân trong xã hội. Ông ta suy nghĩ về vấn đề này rất nhiều. Ông tìm hỏi nhiều người về vấn đề này, nhưng không tìm ra câu trả lời thỏa đáng. Một ngày nọ ông đọc được một cuốn sách về Phật Giáo trong đó có nói đến luật Nghiệp Báo. Khi đọc về luật Nghiệp Báo ông ta rất thỏa mãn với những lời giải thích của luật Nghiệp Báo. Ông quyết định tìm hiểu thêm về đạo Phật. Ông sang Á Châu trở thành một nhà sư, và mất ở tuổi tám mươi. Luật Nghiệp Báo là động lực đầu tiên khiến ông trở thành một nhà sư Phật Giáo.

Đạo Phật và Đạo Phật Nguyên Thủy - Trưởng Lão U Thittila

Ðạo Phật không phải là một tôn giáo theo nghĩa trong đó từ ngữ "tôn giáo" này thường được mọi người hiểu, vì đạo Phật không phải là một hệ thống của đức tin và thờ phượng, đạo Phật không đòi hỏi sự tin tưởng mù quáng nơi các tín đồ; ở đây, đức tin thuần tuý bị xóa bỏ và  niềm tin được thay thế bằng tín (Saddhà), tức là niềm tin dựa trên trí hiểu biết về sự thật. Ðạo Phật bao gồm ba phương diện: lý thuyết, thực hành và chứng đắc. Lý Thuyết là Tạng Kinh, Tạng Luật, Tạng Luận. Thực hành là Bát Chánh Đạo, chứng đắc là quả 4 Thánh  theo thứ tự Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A la hán (cao nhất).

Cơ bản về Nghiệp, Chết và Tái Sanh - Đại Trưởng Lão U Thittila

NGHIỆP (KAMMA) LÀ GÌ?

Kamma là một từ Pàli mang ý nghĩa hành động. Hình thức Sanskrit là Karma. Nói chung thì Kamma có nghĩa là tất cả những hành động thiện và ác. Nó bao trùm tất cả những hành động có chủ ý hoặc bằng tâm, bằng khẩu hay thân - ý nghĩ, lời nói và hành động. Trong ý nghĩa cùng tột của nó, Kamma là tất cả mọi hành động thiện và bất thiện.

TỨ DIỆU ĐẾ: Toàn bộ lời giải cho bài toán khổ của thế gian. - tác giả: GS001

TỨ DIỆU ĐẾ là bài pháp đầu tiên mà chư Phật đều thuyết giảng liền sau khi thành đạo (Chuyển Pháp Luân). Đó là toàn bộ lời giải cho bài toán khổ đau của thế gian mà chư Phật đã từ bỏ mọi hạnh phúc riêng tư để ra đi tìm kiếm. TỨ DIỆU ĐẾ gồm có 4 SỰ THẬT (ĐẾ) VI DIỆU mà chư Phật đều đã hoàn toàn thấu triệt trước khi tuyên bố là bậc VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC:

Bát Chánh Đạo - Tỳ Khưu CHÁNH MINH

Các học giả nghiên cứu Phật học đều công nhận: “Kinh Chuyển Pháp Luân là bản tuyên ngôn, đăng quang ngôi vị Pháp Vương của Đức Thế Tôn”.
Trước thởi Đức Phật, người có trí đều nhận thức được sự khổ (dukkha), nhưng từ đâu sự khổ được sinh ra?