Hiển thị các bài đăng có nhãn Vi Diệu Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vi Diệu Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Nền tảng Phật Pháp - Lý Duyên Hệ = 24 Hệ Nhân Duyên - TK Sīlānanda


Hôm nay, chúng ta đi đến phần thứ ba của Luật Nhân Quả. Luật Nhân Quả có ba phần: Trước tiên là Luật Nghiệp Báo, thứ hai là Luật Duyên Sinh, thứ ba là Luật Duyên Hệ Duyên (bài này). Hai Luật đầu chúng ta đã nghiên cứu rồi. Bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp Luật Duyên Hệ Duyên (Paṭṭhāna).

Trạng thái tâm (Sở hữu tâm) - Vi diệu pháp - TK Giác Chánh

Về môn học Vi Diệu Pháp thì quan trọng nhất là phần Sở hữu tâm (trạng thái của tâm), các kiến thức khác liên quan đến Vi Diệu Pháp có thể không cần biết (như Lộ trình tâm, Duyên hệ....) nhưng kiến  thức về Sở hữu tâm thì nên biết vì khi hành thiền Tứ Niệm Xứ, hoặc khi sống trong đời thì chúng ta luôn đối diện với các trạng thái tâm của chính chúng ta và người khác. Đây là bài đọc thêm, các bạn nên tìm hiểu để bổ sung kiến thức về hành thiền quán Tứ Niệm Xứ (thiền minh sát). Chúng ta nên chú ý là chúng ta đọc Vi Diệu Pháp để hiểu Kinh Nikaya chứ chúng ta không nên thực hành thiền theo Vi Diệu Pháp, mà chúng ta thực hành thiền theo Kinh (Kinh Đại Niệm Xứ...). Có một số trường phái thiền minh sát dạy thực hành thiền theo kiểu Vi Diệu Pháp, phân tích, phân biệt danh sắc chân đế lung tung....và kết quả là dẫn đến mơ hồ, trừu tượng, rắc rối, không thực hiện được và đi ngược lại với tính chất cụ thể, thiết thực hiện tại của pháp Giác Ngộ mà Đức Phật truyền dạy.  Tuyệt  đối không nên như vậy vì Vi Diệu Pháp không phải là Kinh, Đức Phật chỉ dạy Kinh chứ không dạy Vi Diệu Pháp. Phải hết sức cẩn thận như vậy. 

Vi Diệu Pháp Nhập Môn - Tỳ kheo Giác Chánh (Sách cần thiết đọc để hiểu Kinh Tạng Pali)

Phatphapchanthat: Khi bạn đọc vào Tạng Kinh như Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh hoặc các sách vở Phật giáo, bạn thường gặp những từ ngữ khó chịu, xa lạ xuất phát từ thuật ngữ Hán Việt và Pali. Bạn không hiểu bởi vì bạn không có sách để hiểu những từ ngữ đó cho chính xác chứ trên đời này không có ai là người dở cả. Thế nên, chúng tôi thấy cuốn sách này sẽ giúp bạn khởi đầu tìm hiểu Phật học một cách sâu sắc và đầy trí tuệ nên giới thiệu cho bạn. Cuốn sách này tóm tắt lại toàn bộ giáo Pháp của Phật (Tạng Kinh) một cách có trọng tâm. Bạn rảnh thì bỏ thời giờ ra đọc nó, vô cùng ích lợi cho trí tuệ. Ngay cả những vị giáo sư, tiến sĩ mà không biết nội dung trong đây thì cũng là rất thiếu sót về trí thức. 

Giới thiệu Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) Hòa thượng Narada


Như danh từ hàm xúc ý nghĩa, Abhidhamma, Vi Diệu Pháp, là Giáo Huấn Cao Siêu, vi diệu, thù thắng, của Ðức Phật. Sách nầy trình bày phần tinh hoa của Giáo Pháp mà Ngài ban truyền.Giáo Pháp nằm trong tạng Kinh (Sutta Pitaka) là giáo huấn thông thường, có tánh cách quy ước, chế định (vohàra desanà). Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) là giáo huấn cùng tột (paramattha desanà) rốt ráo. Không thể đổi thay hay biến chuyển, không thể phân tách thêm được nữa.
Trong Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), cả Danh và Sắc, hai thành phần tâm linh và vật chất cấu tạo guồng máy phức tạp của con người, đều được phân tách rất tỉ mỉ. Những diễn tiến chánh yếu liên quan đến tiến trình sanh và tử đều được giải thích tường tận. Những điểm phức tạp và khó hiểu trong Giáo Pháp đều được rọi sáng. Con Ðường Giải Thoát được chỉ vạch với những ngôn từ rành rẽ.

Pháp đàm với Khun Sujin (một chuyên gia Vi Diệu Pháp người Thái Lan)

TVCS xin giới thiệu với các độc giả loạt bài dịch về các buổi pháp đàm với Khun Sujin, một chuyên gia Vi Diệu Pháp người Thái Lan. Các buổi pháp đàm này được tổ chức hàng tuần dưới dạng thảo luận về Giáo Pháp với sự vận dụng kiến thức từ VDP. Đặc biệt sắc sảo và thiện xảo trong cách trả lời, bà Khun Sujin giúp cho người tham gia có cái hiểu đúng đắn về chân đế và về bản chất của con đường Bát Chánh Đạo...
 


Ngày 13/01/2007 – sinh nhật lần thứ 80 của Khun Sujin
HV = Học viên
KS = Khun Sujin

Học viên 1: Một số người bạn nhờ tôi đặt một vài câu hỏi.

Câu hỏi thứ nhất là : Khi đọc Kinh, một số thấy rằng họ không thể dung hòa nội dung của một số bài kinh khác nhau, vì vậy người bạn này chọn cách đọc từng bài kinh một cách riêng rẽ, không cố gắng dung hòa chúng. Anh ấy lấy ví dụ bài kinh Anattalakhana (kinh Vô ngã tướng), trong đó nói rất rõ không có ngã, không có gì để làm, không có gì có gì có thể được dẫn dắt, điều khiển. Khi đọc bài kinh này, anh ấy đọc theo tinh thần ấy. Nhưng khi đọc một bài kinh khác, chẳng hạn như kinh Anapanasati (kinh Quán niệm hơi thở), trong đó có nói đến việc chủ động đưa chánh niệm trên hơi thở, dẫn dắt hơi thở theo một cách nào đó. Khi đọc bài kinh ấy, anh ta đọc theo tinh thần dẫn dắt một số pháp nhất định, và không tìm cách dung hòa với bài kinh kia.

Giới thiệu Vi Diệu Pháp (Abhidhamma)

Giới thiệu Vi Diệu Pháp (Abhidhamma)


Hòa thượng Narada


Như danh từ hàm xúc ý nghĩa, Abhidhamma, Vi Diệu Pháp, là Giáo Huấn Cao Siêu, vi diệu, thù thắng, của Ðức Phật. Sách nầy trình bày phần tinh hoa của Giáo Pháp mà Ngài ban truyền.Giáo Pháp nằm trong tạng Kinh (Sutta Pitaka) là giáo huấn thông thường, có tánh cách quy ước, chế định (vohàra desanà). Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) là giáo huấn cùng tột (paramattha desanà) rốt ráo. Không thể đổi thay hay biến chuyển, không thể phân tách thêm được nữa.
Trong Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), cả Danh và Sắc, hai thành phần tâm linh và vật chất cấu tạo guồng máy phức tạp của con người, đều được phân tách rất tỉ mỉ. Những diễn tiến chánh yếu liên quan đến tiến trình sanh và tử đều được giải thích tường tận. Những điểm phức tạp và khó hiểu trong Giáo Pháp đều được rọi sáng. Con Ðường Giải Thoát được chỉ vạch với những ngôn từ rành rẽ.
Tâm lý học hiện đại, còn hạn định, vẫn nằm trong phạm vi của Vi Diệu Pháp khi đề cập đến tâm, tư tưởng, tiến trình tư tưởng và trạng thái tâm. Nhưng Vi Diệu Pháp không chấp nhận có một linh hồn, xem như một thực thể đơn thuần thường còn, không biến đổi. Phật Giáo dạy một tâm lý học trong đó không có linh hồn trường cửu.
Tâm thức được định nghĩa. Tư tưởng được phân tách và được sắp xếp thành loại trên bình diện luân lý. Tất cả những trạng thái tâm, hay Tâm Sở, đều được ghi rõ từng khoản. Thành phần cấu hợp của mỗi loại tâm đều được trình bày tường tận với đầy đủ chi tiết. Những tiến trình tâm phát sanh qua năm cửa giác quan và cửa tâm (ý căn) được mô tả một cách vô cùng hứng thú. Không có bản khái yếu tâm lý học nào giảng giải tiến trình tâm được rõ ràng như vậy.

Giới thiệu Tạng Vi Diệu Pháp - Tác giả: ĐĐ Thiện Minh

  • Giới thiệu Tạng Vi Diệu Pháp

  • Giới thiệu Tạng Vi Diệu Pháp

    Luận tạng là chìa khóa để thấy biển tuệ của chư phật. Học phật không nghiên cứu luận tạng chẳng khác nào làm toán mà không thông thạo bảng cửu chương

Tâm Siêu Thế (Lokuttara Citta) - Nina Van Gorkhom. Thiện Minh dịch

Tâm Siêu Thế (Lokuttara Citta)

-ooOoo-

Khái lược về những đề mục hành thiền (trích Vi Diệu Pháp toát yêu)


KAMMA.T.THĀNA-SAṄGAHA-VIBHĀGO
Khái lược về những đề mục hành thiền
[*]


Những khía cạnh khác nhau của Tâm (Nina Van Gorkhom)

Những khía cạnh khác nhau của Tâm

-ooOoo-
Lời dạy của Ðức Phật là chân lý. Những gì Ngài dạy có thể được chứng minh qua kinh nghiệm của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta thật sự không biết hầu hết những sự thật thông thường về đời sống hằng ngày: Danh pháp và Sắc pháp xuất hiện do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm. Dường như phần lớn chúng ta quan tâm đến quá khứ hay tương lai. Tuy vậy, chúng ta sẽ khám phá sự thật của đời sống là gì, nếu chúng ta biết nhiều về những sự thật của giây phút hiện tại, và chúng ta học cách nhận biết chúng khi chúng xuất hiện.

Đặc tính của Tham Sân Si (Nina Van Gorkhom)

Ðặc tính của Tâm Tham

-ooOoo-
Tâm có nhiều loại khác nhau. Chúng được người ta phân loại là tâm thiện, tâm bất thiện, tâm quả, tâm tố. Tất cả những loại tâm này phát sinh thường xuyên. Tuy nhiên, chúng ta biết rất ít về chúng. Hầu hết chúng ta không biết có tâm thiện, tâm bất thiện, tâm quả, tâm tố không? Nếu chúng ta học cách phân loại tâm của chúng ta, chúng ta sẽ có sự hiểu biết nhiều về tâm của mình và tâm của người khác. Chúng ta sẽ có nhiều tâm từ và tâm bi đối với những người khác, thậm chí khi họ cư xử mất lịch sự với mình. Chúng ta không thích tâm bất thiện của người khác; khi người ta keo kiệt hoặc nói những lời thô lỗ chúng ta cảm thấy khó chịu.

Cõi giới (Nina Van Gorkhom)

Giác ngộ (Nina Van Gorkhom, Thiện Minh dịch)

Giác ngộ

-ooOoo-
Chúng ta không thể nào thành đạt sự giác ngộ mà không có tu tập những điều kiện chân chánh. Chúng ta xem trong Tương Ưng Bộ Kinh (V, Mahàvagga, quyển XI, Tương Ưng Dự lưu, chương I, §5, Sàriputta) về 4 điều kiện trở thành một bậc Dự lưu. Kinh nói rõ:
Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sàriputta:

Thiền Chỉ và Những Tâm Thiền (Nina Van Gorkhom, Thiện Minh dịch)

Thiền chỉ

-ooOoo-
Chúng ta muốn tạo nhiều việc thiện trong đời sống, nhưng thường thường chúng ta không thể hành động, nói và suy nghĩ về những việc thiện được. Những phiền não ngấm ngầm của chúng ta đã che khuất chúng ta trong việc thực hiện thiện pháp. Chúng ta học hỏi về Giáo pháp, thấy rằng có những "triền cái" (Nìvarana) mà nó là những sở hữu bất thiện phát sanh với những tâm bất thiện. Những triền cái phát sanh nhiều lần trong đời sống thường nhật. Chúng là:
Tham dục (Kàmacchanda)
Sân hận (Vyàpàda)
Hôn trầm và thụy miên (Thìna-Middha)
Trạo cử và hối quá (Uddhacca-Kukkucca)
Hoài nghi (Vicikicchà)

SẮC PHÁP - Rūpa (Giác Chánh)


SẮC PHÁP
Rūpa
Sắc Pháp là thể chất vô tri giác, do danh từ Rūpa, có nghĩa là vật chất có tính cách thay đổi và hoại diệt. Theo thuật ngữ Phật học, Sắc Pháp không những dùng để chỉ các phần tử vật chất mà ta có thể nhìn thấy hay cảm nhận được, nó còn hàm chứa tất cả về vật lý ẩn tàng trong phần tử vật chất đó, thí dụ như sự biến đổi lẹ làng khiến ta không thể gõ hai lần lên cùng một chỗ. Sự tồn tại của một Sắc Pháp là 17 tâm Sát na hay 51 Sát na tiểu.
Sắc Pháp gồm có 8 đặc tính sau:

1. Pháp Vô Nhân hay Phi Nhân (Ahetuva): vì chúng không có nhân tương ưng như Tham, Sân, Si, Vô Tham, Vô Sân, Vô Si.
2. Pháp Hữu Duyên (Sappaccaya): vì chúng chỉ có sự hiện hữu tương đối, do duyên trợ tạo là Nghiệp (Kamma), Tâm (Citta), Âm Dương hay thời tiết (Utu) và Vật Thực (Āhāra).
3. Pháp Hữu Lậu (Sāsava): vì chúng trở thành đối tượng của dục vọng (tứ lậu).
4. Pháp Hữu Vi (Sankhāra): vì bị chi phối bởi bốn nguyên nhân Kamma, Citta, Utu và Āhāra.
5. Pháp Hợp Thế (Lokīya): vì chúng phụ thuộc vào năm uẩn.
6. Pháp Dục Giới (Kāmavacara): vì chúng nằm trong phạm vi của giới vực Dục lạc (bao gồm cả 28 Sắc Pháp).
7. Pháp Vô Cảnh (Anārammanaṃ): còn gọi là Pháp Phi Sở Duyên, vì không nhận thức được đối tượng, không biết cảnh (làm chỗ nương cho tâm thức biết cảnh).
8.Pháp Phi Trừ (Appahātabba): còn gọi là Pháp Phi Sở Ðoạn, vì các Sắc Pháp không thể tuần tự đoạn diệt như các phiền não. Ở đây không có nghĩa là các Sắc Pháp không bị luật Vô Thường chi phối.
Muốn nắm vững căn bản của Sắc Pháp, ta phải nghiên cứu và phân biệt thật kỹ, vì nó vừa thực tế, vừa vi tế, hơn nữa, ta thường có sự nhận định sai lầm giữa Siêu lý và Chế định.

Tâm và Pháp (Giác Chánh)


TÂM
Citta
Tâm là sự biết cảnh hay nhận thức đối tượng. Ở đây, Tâm phải được hiểu là sự nhận thức thuần túy, chủ trương biết cảnh; còn thể cách thiện hay bất thiện là do các sở hữu tâm. Giải về tâm, các nhà chú giải viết "Cintanaṃattaṃ Cittaṃ = nhận thức gọi là Tâm". "Ārammanaṃ Cinteti Cittaṃ = biết cảnh gọi là Tâm".
Theo Vi Diệu Pháp thì các danh từ Tâm (Citta), Ý (Mana), Thức (Viññāṇa) không có sự sai khác về ý nghĩa, tùy theo chỗ dùng mà chúng có nhiều tên gọi khác nhau. Thí dụ: đối với 12 Xứ thì tất cả Tâm gọi là ý (Ý Xứ), đối với ngũ uẩn thì tất cả tâm gọi là thức (Thức Uẩn) ...
Atthakathā chú giải rằng:

Trạng thái (chơn tướng) của Tâm là biết cảnh (Ārammanaṃ Vijāranakkhanaṃ).
Phận sự của Tâm là chủ trì, hướng dẩn sở hữu tâm (Pubbaṃgamarasaṃ).
Sự thành tựu của Tâm là tư cách liên tục, nối nhau sanh diệt không gián đoạn (Sandhanapaccupaṭṭhānaṃ).
Nhân cần thiết của Tâm là Sở hữu tâm và Sắc pháp (Nāma Rūpa padaṭṭhanaṃ).

TÂM DỤC GIỚI TỊNH HẢO (Sobhanakāmāvacaracitta) - Tỳ Khưu Giác Chánh


TÂM DỤC GIỚI TỊNH HẢO
Sobhanakāmāvacaracitta
Tâm Dục giới Tịnh Hảo là những tâm tốt đẹp nằm trong lãnh vực Dục giới. Nói theo chi pháp, tâm Dục giới Tịnh Hảo là những tâm Dục giới có Sở Hữu Tịnh Hảo đồng sanh và hòa hợp.


Tâm Bất Thiện & Tâm Vô Nhân - Giác Chánh


TÂM BẤT THIỆN
(Akusalā Citta)
1. Ðịnh nghĩa:
Tâm bất thiện là tâm ác, xấu, không tốt đẹp. Nói theo chi pháp, tâm bất thiện là những tâm sanh lên có sở hữu bất thiện đồng sanh và hòa hợp (theo lời giải của bộ Aṭṭhakathā). Phạn ngữ Akusalā dịch là bất thiện, phi thiện, có nghĩa là trái với thiện. Nếu thiện là những gì lành mạnh của tinh thần thì bất thiện là trạng thái suy nhược, bệnh hoạn của tâm (Rogayattha); nếu thiện là cái gì tốt đẹp thì bất thiện là cái gì không tốt đẹp; nếu thiện là cái gì khôn khéo thì bất thiện là cái gì vụng về; nếu thiện là cái gì hiền thiện thì bất thiện là cái gì tội lỗi; nếu thiện là cái gì tạo quả an lạc thì bất thiện là nguyên nhân sanh khổ đau.
2. Phân loại: