Quán sát nội tâm - Upasika Kee Nanayon

Tóm tắt Pháp hành

Phương pháp thực hành này rất dễ học, có ngay kết quả, và thích hợp ở mọi lúc, mọi nơi, và cho mọi lứa tuổi, cả nam lẫn nữ. Đó là sự thực hành ngay nơi thân này –cái thân cao dài hơn một sải– do tâm làm chủ.
Thân này sở hữu rất nhiều thứ, từ thô đến tế, rất đáng cho chúng ta tìm hiểu.
Những ai muốn thực hành Pháp này cần tự tu tập để biết các tiến trình sau đây:

Minh Sát Thiền do Ngài Mahasi Sayadaw truyền dạy - Viên Giác dịch

Minh Sát Thiền do Ngài Mahasi Sayadaw truyền dạy

  Pháp hành Minh Sát Thiền là nỗ lực để hiểu một cách đúng đắn bản chất hiện tượng tinh thần và thể lý trong thân thể người tu tập. Hiện tượng thể lý là những việc hay vật mà người tu nhận thức một cách rõ ràng quanh mình và bên trong mình. Toàn thể thân xác người tu gồm một nhóm các phẩm chất thể lý. Hiện tượng tinh thần là họat động của ý thức hay cái biết. Những điều này được nhận thức một cách rõ ràng bất cứ khi nào các pháp được nhìn thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, hay được nghĩ tới. Chúng ta phải tỉnh thức về các hiện tượng tinh thần này bằng cách quan sát chúng và ghi nhận [niệm về] chúng như: "[đang] thấy, thấy", "nghe, nghe", "ngửi, ngửi", "nếm, nếm", "sờ, sờ", hay "nghĩ, nghĩ".

Hướng dẫn hành thiền - Ajahn Chah

Có một số đọc giả gửi email thắc mắc về việc hành thiền (định và quán), hoặc có thể tu quán mà không nhập thiền được không?  v.v và v.v…
Sau tìm đọc một số tài liệu, Supanna Thiện Trí nhận thấy bài giảng của ngài Ajahn Chah có thể đáp ứng được thắc mắc chung của qúy đọc giả nên đã dịch ra để gửi đến bạn đọc. Với lối giảng dạy giản dị nhưng sinh động cùng với kinh nghiệm thực chứng, bài giảng của ngài có thể như là một bản phác thảo rõ ràng về Con Đường. Hy vọng qúy đọc giả quan tâm đến Pháp hành sau khi đọc xong bài này có thể hình dung được  con đường  đi đến Giải thoát – Níp – bàn như thế nào và vững tin với Pháp hành mà mình đã chọn.

Hãy tự mình tu tập! - Bhante Henepola Gunaratana

Đại đức Ananda, thị giả của Đức Phật, đã phục vụ Đức Phật trong suốt 25 năm.  Đã nhiều lần,  Đức Phật yêu cầu ngài hãy cố gắng phấn đấu để đạt được sự Giác ngộ.
Đại đức Ananda tinh thông các Pháp và mọi lý thuyết về thiền tập.  Tuy nhiên, do ngài hoan hỷ trong việc  phục vụ cho Đức Phật và Tăng chúng,  ngài đã lờ đi mục tiêu Giác ngộ cho chính bản thân  mình  cho đến khi -  cuối cùng -  do áp lực rất lớn từ 499 vị A-la –hán, những vị được triệu tập cho cuộc kiết tập Kinh điển đầu tiên.

Thiền quán và bốn sự thật cao diệu - Thiền sư Mahasi Sayadaw


Chân lý mà chúng ta phải thực chứng là chân lý có liên quan đến Tứ Diệu Đế, Bốn Sự Thật Cao Diệu. Đó là: (1) Sự Thật về Khổ (Khổ đế), (2) Sự Thật về Nguồn Gốc của Khổ (Tập đế), (3) Sự Thật về sự Diệt Khổ (Diệt đế), và (4) Sự Thật về Con Đường đưa đến Diệt Khổ (Đạo đế).

Sự thật về Khổ có liên quan đến bản chất của năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Theo Kinh Chuyển Pháp Luân, chúng ta phải thấu triệt sự khổ nầy để thông hiểu một cách đúng đắn.

Bí mật của hơi thở - Bhante Henepola Gunaratana

Tối nay, tôi sẽ trình bày về một sự việc rất đơn giản và thực tế, và tuy vậy rất ít người quan tâm đến nó. Tôi muốn nói về sự bí mật của hơi thở, về sự thật ẩn mình trong hơi thở. Mặc dù chúng ta thở suốt cả đời mình, chẳng mấy ai trong số chúng ta quan tâm nhiều đến hơi thở, để có thể khám phá sự thật mà hơi thở có thể hiển lộ ra.



Suy nghĩ có bao giờ ngưng không? -- Bhante Henepola Gunaratana


Đức Phật khuyên các Tỳ kheo, “ Này các Tỳ kheo, khi các ông tụ họp với nhau, các ông nên làm một trong hai điều: Thảo luận về Giáo Pháp hoặc quan sát sự im lặng cao quý "

Im lặng cao quý là trạng thái của tâm khi không có sự suy nghĩ. Tâm hoàn toàn im lặng. Suy nghĩ chỉ có thể ngừng nếu chúng ta huấn luyện tâm của chúng ta  làm như vậy thông qua thiền tập đúng cách.

Quán niệm: Phương thuốc hữu hiệu để giảm đau - Tony Bernhard


Tony Bernhard là giáo sư Luật học tại  University of California trong suốt 22 năm kể từ lúc nhận bằng tiến sĩ Luật năm 1982. Từ năm 1992, bà đã bắt đầu nghiên cứu và thực hành Phật giáo.

Bắt buộc phải về hưu sớm vì bệnh mãn tính năm 2004, bà cảm thấy tuyệt vọng và tự dày vò mình vì có cảm tưỡng đã làm tan nát cuộc sống của người bạn đời. Sau khoảng năm sáu năm đau khổ, bà quay lại với thiền quán niệm và nhận ra phương pháp thiền quán niệm là phương thuốc hữu hiệu để giảm đau đớn thể xác.

Chấp nhận chính mình - Ni sư Ayya Khema

Quả là một hiện tượng lạ khi con người thường thấy rất khó để yêu  thương chính bản thân mình, vậy mà chúng ta vẫn thường nghĩ rằng việc này dễ nhất trên đời vì có  ai mà không thường xuyên quan tâm đến chính mình. Lúc nào chúng ta cũng bận tâm đến việc chúng ta làm được bao nhiêu tiền, thành quả công việc của mình tốt đẹp ra sao, chúng ta thấy thoải mái như thế nào. Chẳng phải Đức Phật đã từng dạy rằng: "Chúng sanh yêu chính mình hơn ai hết ” sao? Vậy tại sao chúng ta lại cảm thấy thực sự khó để yêu thương chính mình?

Tâm định và thiền Quán Vipassana - Thiền Sư U Silananda

Tâm Ðịnh là một yếu tố rất quan trọng trong pháp môn thiền Quán Vipassana. Không có tâm Ðịnh, những tuệ Minh sát không thể phát triển, và hành giả không thể thấu suốt được bản chất thật sự của vạn vật, không thể thực chứng được ba đặc tướng vô thường, bất toại nguyện, và vô ngã của Thân Tâm.

Chánh niệm - Henepola Gunaratana


Thiền Quán còn gọi là Thiền Tuệ hay Thiền Minh Sát (tiếng Pali: Vipassana) đã được Đức Phật chỉ dạy cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm, là phương pháp thiền đặc biệt chú trọng vào việc giữ sự chánh niệm liên tục. Chánh niệm, tiếng Anh là ‘Mindfulness’, tiếng Pali ‘Sati’.
Chánh niệm là một tiến trình vi tế mà bạn đang thực hiện ngay thời điểm hiện tại. Khi bạn nhận thức (biết được) một vật gì lần đầu tiên, khi ấy sẽ có một sự ý thức (biết) thuần tuý thoáng qua rất nhanh trước lúc bạn có khái niệm về vật đó, trước lúc bạn nhận dạng ra nó. Chính giai đoạn ý thức (biết) thuần tuý đang trôi chảy đó là Chánh niệm.

Kinh Giới Hạnh - Hòa thượng Thiền Sư Silananda giải


Kinh Giới Hạnh
Silavanta Sutta
Hòa thượng Thiền Sư Silananda
Nita Truitner dịch Việt
Mục Lục
Lời Giới Thiệu
Tiểu Sử Thiền Sư U Silananda
Kinh Giới Hạnh
1. Giới Thiệu Về Ngũ Uẩn
2. Vô Thường
3. Khổ
4. Ba Đặc Tướng
5. Nhập Lưu
6. Phước Báu Và Những Bảo Vật Cao Quý
7. Con Đường Đến Niết Bàn
8. Các Tầng Thánh Đạo Cao Hơn
9. Sự Quan Trọng Của Chánh Niệm
10. Chỉ Dẫn Về Cách Hành Thiền Minh Sát

Quán sát tâm - Sayadaw U Jotika

Chánh niệm là một cách sống. Bất cứ nơi nào mà quý vị đến và bất cứ điều gì mà quý vị làm đều phải được chánh niệm. Suy nghĩ là một cản trở lớn trong chánh niệm. Dĩ nhiên để ghi nhận được những suy nghĩ là điều rất quan trọng và nhìn cái tâm của quý vị với cái tâm không xét đoán hoặc khiển trách. Chỉ nhìn nó một cách thật đơn giản, cũng không có tôi hay ta.

194 câu nói trích từ các bài giảng của ngài Ajahn Chah -Tỳ kheo Khánh Hỷ dịch


Sinh và tử

1. Thực hành tốt đẹp là tự hỏi mình: "Tại sao ta sinh ra?" Sáng, trưa, chiều, tối... mỗi ngày hãy tự hỏi mình câu hỏi đó.
2. Sinh và tử của ta chỉ là một. Bạn không thể có cái này mà chẳng có cái kia. Người ta buồn rầu than khóc khi có ai chết, và vui cười hớn hở khi thấy một đứa trẻ sinh ra đời. Thật si mê và khôi hài làm sao! Nếu muốn khóc, hãy khóc lúc có ai sinh ra. Hãy khóc cái nguyên nhân, khóc cái gốc, vì không sinh ra thì sẽ không chết.

HẠNH PHÚC LÀ GÌ và Con đường để đạt Hạnh Phúc? - Trưởng Lão U Thittila


Hạnh phúc là gì? Con đường nào đđạt hạnh phúc? Đó là vấn đít ai nghĩ đến nhưng hầu hết ai cũng phải cn ttrả lời cho đời mình. Đạo Phật dùng con đường "Trung Đạo của Bát Chánh Đạo" đđạt hạnh phúc vô thượng. Đó là Niết Bàn.

Đạo Phật và Đạo Phật Nguyên Thủy - Trưởng Lão U Thittila

Ðạo Phật không phải là một tôn giáo theo nghĩa trong đó từ ngữ "tôn giáo" này thường được mọi người hiểu, vì đạo Phật không phải là một hệ thống của đức tin và thờ phượng, đạo Phật không đòi hỏi sự tin tưởng mù quáng nơi các tín đồ; ở đây, đức tin thuần tuý bị xóa bỏ và  niềm tin được thay thế bằng tín (Saddhà), tức là niềm tin dựa trên trí hiểu biết về sự thật. Ðạo Phật bao gồm ba phương diện: lý thuyết, thực hành và chứng đắc. Lý Thuyết là Tạng Kinh, Tạng Luật, Tạng Luận. Thực hành là Bát Chánh Đạo, chứng đắc là quả 4 Thánh  theo thứ tự Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A la hán (cao nhất).

CON ÐƯỜNG ÐI ÐẾN NIẾT BÀN - Trưởng Lão U Thittila


“Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh Đạo, thời ở đấy không có đệ nhất Sa Môn, ở đấy không có đệ nhị Sa Môn, cũng không có đệ tam Sa Môn, cũng không có đệ tứ Sa Môn. Này subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh Đạo thời ở đấy có đệ nhất Sa Môn, đệ nhị Sa Môn, cũng có đệ tam Sa Môn, cũng có đệ tứ Sa Môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không Sa Môn. Này suhadda, nếu những vị Tỳ kheo này sống chân chánh, thời đại này không vắng những vị A La Hán”.

(Kinh Trường Bộ tập I trang 659,
kinh Đại Bát Niết Bàn)

Cơ bản về Nghiệp, Chết và Tái Sanh - Đại Trưởng Lão U Thittila

NGHIỆP (KAMMA) LÀ GÌ?

Kamma là một từ Pàli mang ý nghĩa hành động. Hình thức Sanskrit là Karma. Nói chung thì Kamma có nghĩa là tất cả những hành động thiện và ác. Nó bao trùm tất cả những hành động có chủ ý hoặc bằng tâm, bằng khẩu hay thân - ý nghĩ, lời nói và hành động. Trong ý nghĩa cùng tột của nó, Kamma là tất cả mọi hành động thiện và bất thiện.

Sư ông Thích Thông Lạc nêu ra những giả dối của pháp Đại Thừa



 Ngày nay không còn ngăn sông cách núi và không “đói” thông tin như ngày xưa nữa. Cho nên, mọi thứ điều được rõ ràng: “Kinh Giả”, “Kinh Thật”, đừng hòng ai lấp liếm che dấu sự thật. Nào, những Phật tử với ít bụi trong mắt, đã lỡ bị nhiễm pháp “tham cao siêu” có thể được ích lợi nếu kiên nhẫn tìm hiểu những vấn đề về cái gọi là “Đại Thừa”.  Phật Pháp Chân Thật (PPCT) xin giới thiệu bài pháp của sư ông Thích Thông Lạc (mà hầu hết các web site rất sợ đăng, vì sao???). Bản thân PPCT không liên hệ gì với sư ông và các đệ tử của sư ông. Đạo Phật là đạo của người có trí biết phán xét đúng sai chứ không phải là đạo của sự chấp nhận, tin ẩu tả những gì mà người ta áp đặt từ xưa.

Chỉ có 1 pháp môn giải thoát chứ không phải có 84 ngàn pháp môn như các sư Đại Thừa nói

Pháp môn giải thoát duy nhất khỏi sinh tử luân hồi, đau khổ mà Đức Phật đã dạy trong Tạng Kinh Nguyên Thủy là Bát Chánh Đạo. Các sư Đại Thừa thời sau Đức Phật tuyên bố có 84 ngàn pháp môn giải thoát trong nhiều Kinh sách Đại Thừa  (các sư sáng chế ra chứ không phải Kinh được kết tập trong lịch sử). Điều này là sai trái, tuyệt đối sai lầm và không thể chấp nhận. Hãy nhớ rằng đời người có hạn, tu sai 1 pháp môn (trong 84000 pháp môn) tưởng tượng là phí cả một kiếp người, rồi biết bao giờ mới trở lại làm người và khi làm người thì biết bao giờ mới gặp được Chánh Pháp. Bát Chánh Đạo phù hợp với mọi căn cơ mọi chúng sanh (ai cũng tu học được) nên đừng bao giờ dở trò ngụy biện là 84000 pháp môn dành cho 84000 căn cơ chúng sanh. Sau đây Phật Pháp Chân Thật trích ra 2 bài viết để cho các bạn Đại Thừa tham khảo về con số 84000 ngàn trong Chánh Kinh có ý nghĩa như thế nào.

Đừng có đi mỹ, một đất nước ngu dốt và lạc hậu !!! (Đọc vui về dùng ngụy biện để phê bình)


Dẫn : Xuất hiện lần đầu tiên trên mạng  xã hội Sina Weibo,  bài viết này đã nhận được hàng chục ngàn chia sẻ và bình luận. Nội dung tưởng như châm chích cười cợt  mỉa mai  nước Mỹ như một quốc gia ngu ngốc, sơ khai và ngây ngô, nhưng thực ra lại là lời phê phán sắc sảo sâu cay thú vị về chính Trung Quốc ! Tờ Tea Leaf Nation đã trích dịch , biên tập lại những phần đinh nhất của bài viết nói trên. Chúng tôi xin giới thiệu sau đây  bản chuyển ngữ  của Nguyễn Đại Hoàng.  ( Phần Tiếng Anh đính kèm bên dưới ).

PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY VÀ PHẬT GIÁO BIẾN CẢI - Tiến sĩ Phật học Sures Chandra Banerji


Một số quan điểm đặc trưng và khá phổ thông của Đại Thừa giáo là:
- Kêu gọi sự nhận thức về thế giới hiện tượng, đồng thời xác định tính KHÔNG của cái gọi là CON NGƯỜI. Quan điểm này đi ra từ giáo lý vô ngã của Phật giáo truyền thống nhưng bản thân nó thì có lắm điều phải xét lại.
- Niềm tin vào sự có mặt của vô lượng Chư Phật và Bồ-tát vẫn từng lúc hiện hữu trong khắp nơi.
- Chấp nhận thờ phụng các Thần Thánh, kể cả những quỷ thần vay mượn từ Bà-la-môn giáo.
- Phù chú, chân ngôn vẫn có thể là con đường đạt tới giải thoát.
- Xác nhận vai trò của TÂM với quan điểm "nhất thiết duy tâm tạo".

ĐẠO PHẬT: ĐẠO TẬN DIỆT KHỔ ĐAU BẰNG GIÁC NGỘ CÁC SỰ THẬT VÀ SỐNG VỚI SỰ THẬT - GS001

ĐẠO PHẬT: ĐẠO TẬN DIỆT KHỔ ĐAU
BẰNG GIÁC NGỘ CÁC SỰ THẬT VÀ SỐNG VỚI SỰ THẬT

Có 3 sức mạnh để giải quyết đau khổ: Sức mạnh của THAM ÁI, sức mạnh của ĐỨC TIN, và sức mạnh của TRÍ TUỆ. Sức mạnh TRÍ TUỆ tức khả năng thấy được và sống được với các SỰ THẬT. Đa số với những khổ đau trong cuộc đời, con người dùng sức mạnh Tham Ái, tức tìm cách thỏa mãn những đòi hỏi của cuộc sống. Chúng ta sống và làm việc là cốt để thỏa mãn những đòi hỏi đó.Tuy nhiên vẫn có nhiều trường hợp khổ đau mà khả năng con người không thể hoặc khó giải quyết được, ví dụ những chứng bệnh nan y, những tai họa bất ngờ, những chết chóc, v.v. Trong những trường hợp như thế con người thường nương tựa vào sức mạnh của Đức Tin để cảm thấy bình an. Đó là lý do có sự hiện hữu của các tôn giáo, có sự cầu nguyện các đấng Thần Linh.

NGHIỆP, TÁI SANH VÀ DI TRUYỀN HỌC - Dr. Buddhadasa P. Kirthisinghe

Hạnh phúc hay đau khổ là số phận chung của mọi chúng sinh, nhất là con người, và theo quan điểm Phật giáo thì đây không phải là phần thưởng hay hình phạt do Thượng Ðế ban cho một sinh linh đã làm điều thiện hay điều ác. Tín đồ Phật giáo tin vào một định luật tự nhiên, gọi là “ luật nhân quả”, áp dụng chung cho tất cả mọi hiện tượng trong thế giới này. Tín đồ Phật giáo không tin vào một Ðấng Thượng Ðế toàn năng, và do đó một Ðấng Thượng Ðế như vậy, và ngay cả Ðức Phật đại từ bi cũng không thể ngăn cản được định luật này.

THIỀN NGUYÊN THỦY và KHOA SINH HỌC - Dr U. Aung Thein

Chúng ta cần ghi nhận một điểm  thú vị là khi kiến thức khoa học về con người và vũ trụ càng gia tăng thì càng có nhiều bằng chứng được đưa ra để chứng minh giáo lý của Ðức Phật là đúng. Phật giáo là con đường giải thoát do Ðức Phật khám phá ra. Giáo lý đạo Phật được thể hiện qua Tứ Diệu Ðế và Bát Chánh Ðạo. Giải thoát bao hàm sự chấm dứt hoàn toàn vòng luân hồi sinh tử.

VÔ NGÃ HAY KHÔNG CÓ LINH HỒN - Thích Phước Sơn

Chúng ta cần phân biệt thuyết luân hồi sinh tử của Phật giáo với thuyết linh hồn tái sinh, thuyết linh hồn ngụ ý sự chuyển kiếp của một linh hồn và hình thức tái sinh không thay đổi của nó. Phật giáo phủ nhận sự hiện hữu của một linh hồn bất biến hay vĩnh cửu do Thượng đế hay thần ngã (Paramàtma) tạo ra.

Chiếu Kiến Nghiệp Xứ (Vipassana Kammatthana) - Trưởng lão Giác Chánh


Chiếu kiến là gì?
Chiếu là soi sáng. Kiến là thấy rõ. Như vậy, Chiếu Kiến là soi sáng cho thấy rõ. Cái gì soi sáng? Và soi sáng cái gì? Cái gì thấy rõ? Và thấy rõ cái gì ?
Ðó là những câu hỏi, và cần phải được giải thích cho rõ rệt, cũng như sự hiểu biết cho chắc chắn đối với ai muốn thực tập Pháp VIPASSANA (Chiếu Kiến).

Trái Tim Thiền Quán - Trưởng lão Giác Chánh

Thiền Quán nầy tựa là "Trái Tim Thiền Quán". Bởi phương pháp "Niệm hơi thở" là một trong những phương pháp "Niệm thân" - Niệm thân là một trong bốn pháp "Tứ Niệm Xứ" - Tứ Niệm Xứ là một trong "Bát Chánh Ðạo" (Chánh niệm) - Bát Chánh Ðạo là một trong "Tứ Diệu Ðế" (Ðạo đế).
Chư Phật ba đời dù bậc Chánh Ðẳng Giác, Ðộc Giác, Thinh Văn Giác đều giác ngộ Tứ Diệu Ðế mà được giải thoát, giải thoát được là do đắc đạo quả, quả sanh từ đạo.

TỨ DIỆU ĐẾ: Toàn bộ lời giải cho bài toán khổ của thế gian. - tác giả: GS001

TỨ DIỆU ĐẾ là bài pháp đầu tiên mà chư Phật đều thuyết giảng liền sau khi thành đạo (Chuyển Pháp Luân). Đó là toàn bộ lời giải cho bài toán khổ đau của thế gian mà chư Phật đã từ bỏ mọi hạnh phúc riêng tư để ra đi tìm kiếm. TỨ DIỆU ĐẾ gồm có 4 SỰ THẬT (ĐẾ) VI DIỆU mà chư Phật đều đã hoàn toàn thấu triệt trước khi tuyên bố là bậc VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC:

Bát Chánh Đạo - Tỳ Khưu CHÁNH MINH

Các học giả nghiên cứu Phật học đều công nhận: “Kinh Chuyển Pháp Luân là bản tuyên ngôn, đăng quang ngôi vị Pháp Vương của Đức Thế Tôn”.
Trước thởi Đức Phật, người có trí đều nhận thức được sự khổ (dukkha), nhưng từ đâu sự khổ được sinh ra?

Vi Diệu Pháp Nhập Môn - Tỳ kheo Giác Chánh (Sách cần thiết đọc để hiểu Kinh Tạng Pali)

Phatphapchanthat: Khi bạn đọc vào Tạng Kinh như Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh hoặc các sách vở Phật giáo, bạn thường gặp những từ ngữ khó chịu, xa lạ xuất phát từ thuật ngữ Hán Việt và Pali. Bạn không hiểu bởi vì bạn không có sách để hiểu những từ ngữ đó cho chính xác chứ trên đời này không có ai là người dở cả. Thế nên, chúng tôi thấy cuốn sách này sẽ giúp bạn khởi đầu tìm hiểu Phật học một cách sâu sắc và đầy trí tuệ nên giới thiệu cho bạn. Cuốn sách này tóm tắt lại toàn bộ giáo Pháp của Phật (Tạng Kinh) một cách có trọng tâm. Bạn rảnh thì bỏ thời giờ ra đọc nó, vô cùng ích lợi cho trí tuệ. Ngay cả những vị giáo sư, tiến sĩ mà không biết nội dung trong đây thì cũng là rất thiếu sót về trí thức. 

Sư ông Thích Thông Lạc khôi phục nền đạo đức nhân sinh Phật giáo Đại Thừa

Giới thiệu: Sư ông Thích Thông Lạc ở núi Trảng Bàng (Tây Ninh) dũng mãnh như con "sư tử pháp" đã mạnh dạng nói thẳng về "Đại Thừa" trong Kinh Sách Trung Hoa, đã  đô hộ ỡ Việt Nam trước khi đạo Phật Nguyên Thủy có mặt khoảng 40 trở lại đây. Hầu hết mọi trang web đều không dám đăng bài viết của sư ông. Chúng tôi thấy mọi người nên tham khảo ý kiến người khác nên đăng tại đây, có chọn lọc nội dung từ các sách của sư ông nhưng không sửa chữ nghĩa của sư ông. Đức Phật khuyến khích đàm luận Phật Pháp vậy thì bài đăng này chỉ có tính tham khảo thêm trước tệ nạn mê tín dị đoan quá sâu sắc của phái Tịnh Độ Tông (cầu A di đà, Quan Âm) ở Việt Nam ta.

Nguồn gốc Kinh Đại Thừa là do các sư viết ra - Nguyễn Trung Hiếu

image

Sau hơn 500 năm kể từ khi Phật nhập diệt, Phật giáo Đại thừa mới bắt đầu xuất hiện và từ đó những bộ phái khác đều bị Phật giáo Đại thừa gọi chung là Tiểu thừa.
Phật giáo Nguyên thủy, còn gọi là Nam tông, Theravada không công nhận danh xưng Tiểu thừa và phản bác: “Kinh Đại thừa không phải là lời Phật dạy”. Những luận cứ sau đây biện minh cho nhận xét trên.

Phật Giáo Nguyên Thủy là gì?

Theravada (đọc như là tê-rê-va-đa), Học thuyết cuả các Trưởng lão, là một trường phái Phật giáo tiếp nhận giáo lý kinh điển từ Tipitaka, hay là kho tàng Thánh Điển Pali, mà theo như các học giả thường đồng ý với nhau rằng còn lưu lại được những ghi chép các giaó lý ban đầu cuả Đức Phật còn tồn tại với thời gian. 1 Trong nhiều thế kỷ, Therevada đã là tôn giáo thống ngự tại lục điạ Đông Nam Á (Thái lan, Myanmar hay Burma, Cambodia, và Lào) và Srilanka.. Ngày nay số Phật tử Phật giáo Therevada lên đến con số trên 100 triệu trên toàn thế giới. 2 Trong những thập kỷ gần đây Therevada bắt đầu bám rễ ở Phương Tây.

KHÁI NIỆM QUÁN THẾ ÂM THEO KINH ĐIỂN PALI - Tọai Khanh

Quan Thế Âm Bồ Tát không có thật chỉ là sự mê tín dị đoan từ Ấn Độ Giáo (Bà La Môn xưa) và được dân gian Trung Quốc chế tạo ra nhiều Quan Âm khác. 
Quán Âm hay Quán Thế Âm là tên gọi của một vị Bồ Tát nổi tiếng trong hệ thống Phật giáo Bắc Truyền (vẫn được thậm xưng là Đại Thừa) khắp các xứ Trung Hoa, Hàn quốc, Nhật Bản, Tây Tạng, Mông Cổ và cả Việt Nam. Chữ Phạn của tên gọi này là Avalokitvesvara, thường được dịch sát là Quán Tự Tại. Chữ Tự Tại (Isvara) này không hề mang nghĩa thanh thản độc lập như nhiều người vẫn nghĩ. Nó là một từ tố thường thấy ngay sau tên gọi của các vị thần Ấn Độ, một chút dấu vết của Ấn Giáo, xa hơn một tí là Bà La Môn giáo thời xưa. Nói mấy cũng không đủ, với phương tiện Internet ngày nay, người muốn biết xin cứ Online thì rõ. Nãy giờ chỉ nói cái tên, cái ý nghĩa hay vai trò của khái niệm Quán Thế Âm mới là quan trọng.

Kinh Điển Phật giáo: thực và hư (Kinh giả và kinh thật)

Kết tập đầu tiên
Ba tháng sau khi Đức Phật nhập diệt, ngài Đại Ca-diếp (Mahā Kassapa) triệu tập một hội đồng gồm khoảng 500 vị thánh tăng tại vùng đồi núi ngoại thành Vương xá (Rājagaha) để kết tập kinh điển, sau này được gọi là Đại hội Kết tập I. "Kết tập" có nghĩa là thu góp, tập hợp lại, ôn lại, đừng để cho tán thất. Tiếng Phạn là "sangīti", có nghĩa là cùng nhau tụng lại. Trong Đại hội này, ngài Đại Ca-diếp là chủ quản, ngài A-nan-đa (Ānanda) đọc lại các bài kinh giảng, và ngài Ưu-ba-ly (Upāli) đọc lại các điều luật. Sau lần kết tập đầu tiên này, Luật tạng và Kinh tạng được đúc kết. Lúc ấy, Kinh tạng được chia ra thành 4 bộ chính: Trường bộ, Trung bộ, Tương ưng bộ, và Tăng chi bộ.

Đây là thời kì nguyên thủy , tinh nguyên nhất được các bậc thánh kết tập lại. Nhưng chúng ta thấy chỉ có 4 tạng kinh .

Vấn đề Kinh điển ngụy tạo


Vấn đề Kinh điển ngụy tạo
Pháp Tịnh hỏi, Thích Giác Hoàng trả lời



Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật!
Con có câu hỏi về nguồn gốc của một số Kinh như Kinh Thủ Lăng Nghiêm, bộ ba Kinh A Di-Di-Đà, Kinh Dược Sư và Kinh Địa Tạng. Quý Hoà Thượng như HT. Nhất Hạnh, HT. Thanh Từ khi giảng về các Kinh này thường mở đầu đại khái như: “Kinh này xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ sáu, v.v…” có ý nói Kinh được soạn ra nhiều thế kỷ sau khi Đức Phật nhập diệt. Thầy Nhật Từ trong bài mở đầu quyển Kinh Nhật Tụng, cũng viết đại khái: “Các Kinh như Kinh Địa Tạng có tính chất van xin ân huệ, không hợp với tinh thần giác ngộ giải thoát của Phật giáo…” Thầy Chơn Quang ở trong nước thì không kiêng nể gì, tuyên bố “Kinh A-Di-Đà và Kinh Địa Tạng đều là những Kinh ngụy tạo.” (Trong khi đó Phật tử đều biết được nguồn gốc của Kinh Pháp Bảo ĐànKinh Thuỷ Sám và Lương Hoàng Sám). Thái độ úp mở hoặc ý kiến riêng của chư vị Tăng Ni làm cho Phật tử hoang mang một cách vô ích. Con xin quý Thầy giảng về việc này.
Kính,
Pháp Tịnh.

Tu sĩ Phật Giáo và các mạng xã hội


    • Tu sĩ Phật Giáo và các mạng xã hội
      Công nghệ Internet chỉ là một phương tiện truyền thông. Tốt hay xấu phụ thuộc vào người sử dụng. Nếu dùng nó bằng trí tuệ, công nghệ sẽ trở thành một công cụ để nâng cao tiềm năng của nhà sư đó với Chánh pháp. Ngược lại, nhà sư đó sẽ tự làm hỏng chính mình.

"Vi tính" những bức ảnh lịch sử đen trắng nổi tiếng thành màu


  • Tô màu những bức ảnh lịch sử đen trắng nổi tiếng

    Từ những bức ảnh đen trắng nổi tiếng trong lịch sử, kết hợp với khả năng xử lý đồ họa bằng Photoshop để tạo nên kết quả là những bức ảnh màu sinh động như thể vừa được chụp gần đây. 

"chủ thí" thí "thí chủ"


  • CẢNH GIÁC CỬA CHÙA, tập 1.

    CẢNH GIÁC CỬA CHÙA, tập 1.
    Sư Chánh Kiến sưu tầm những câu chuyện được nghe kể tại Việt Nam, thủ phạm dàn dựng công phu, nạn nhân thường là tăng ni,...

Những lảo "cây" mang tên Kỳ Lạ Nhất Thế Giới


  • Những cây Kỳ Lạ Nhất Thế Giới
    Nguyễn Tâm (Theo Zuzutop) Cây đào tại Brazil phủ kín 8.500m2, cây tại Mỹ cao trên 80m… là hai trong số những cây kỳ lạ nhất thế giới. Điều này chứng tỏ thiên nhiên có nhiều điều kỳ lạ, hấp dẫn vô cùng.

Hai bức ảnh tình người rơi nước mắt


  • Hai bức ảnh tình người rơi nước mắt
    Mấy ngày gần đây, cộng đồng facebook đã chia sẻ cho nhau hai hình ảnh về tình mẫu tử và tình người đầy mâu thuẫn nhưng xúc động. Cả hai hình ảnh thu hút hàng ngàn lượt bình luận trong thời gian ngắn.

Lão nông gần 20 năm chỉ uống trà đá vẫn sống khỏe


      • Lão nông gần 20 năm chỉ uống trà đá vẫn sống khỏeThời gian ban đầu, ông uống mỗi ngày chừng 4-5 ly trà đá đường nhưng mấy năm trở lại đây, thì mỗi ngày ông chỉ cần uống 2 ngụm trà đá là 'sống khỏe'. Do chỉ uống nước trà nên chuyện tiểu tiện của ông cũng bình thường, chỉ có việc đại tiện thì 1 tháng mới đi một lần cho có chuyện, chứ ông có ăn gì đâu mà đi.

Thiền dành cho trẻ em


  • Có người cho rằng, trẻ em hiếu động, không thích hợp với thiền. Nhưng thực tế thì không như vậy. Sau khi được hướng dẫn với chương trình thực tập được thiết kế phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, các em tỏ ra thích thú. Có em nhận ra rằng thế giới của mình có… hơi thở! Thế giới bên trong của mình cũng có nhiều điều thú vị.

Niết Bàn (Bhikkhu Thanissaro)

Chúng ta đều biết điều gì xảy ra khi lửa tắt. Ngọn lửa lụn tàn và lửa ra đi. Khi lần đầu chúng ta học rằng cứu cánh của Đạo Phật,  cái gọi tên là “Nibbana”, có nghĩa là sự  tắt lửa, quả thật khó hình dung cứu cánh tâm linh lại là một hình ảnh đoạn diệt: đoạn diệt hoàn toàn. Khái niệm này là một lầm lẫn dịch thuật, đây mới chỉ là một nghĩa của một từ chứ chưa phải là một biểu tượng. Một ngọn lửa tắt biểu tượng cho điều gì vào thời của Đức Phật. Rất nhiều, ngoại trừ sự đoạn diệt

Sự Thức Tỉnh Của KUNDALINI

Tại một trường thiền Myanmar, những năm vừa qua, một số thiền sinh có biểu hiện các triệu chứng được gọi là tâm thần. Họ được chuyển về nước để điều trị tại bệnh viện tâm thần.Tin nghe rằng họ đã từ từ bình phục. Đây là trường thiền uy tín, phương pháp thiền có các thày tu hướng dẫn. Tại đây không chủ trương tu luyện Kundalini (thuộc Ấn Giáo). Mọi thiền sinh tu tập thiền định của Phật Giáo (Jhana), đối tượng tập trung không phải là các luân xa hay Kundalini. Như vậy dù không cố ý khích động, phải chăng Kundalini vẫn cứ trỗi dậy khi hội đủ những điều kiện thích hợp?

Đại Thừa của Đạo Phật Nguyên Thủy (mục lục Sách) - Tác giả: Pa Auk Sayadaw


Theo  truyền thống Phật-giáo Thượng Toạ Bộ (Therāvāda) có ba loại giác ngộ (bodhi). Đó là: Toàn Giác hay Chánh Đẳng Giác (sammāsambodhi), Độc Giác (Paccekabodhi) và Thinh Văn Giác (sāvakabodhi). Thinh Văn Giác (sāvakabodhi) còn được chia ra thêm thành ba loại: Tối Thượng Thinh Văn Giác (aggasāvakabodhi) như sự giác ngộ của Tôn-giả Xá-lợi-phất (Sāriputta) và Mục-kiền-liên(Mogallāna), Đại Thinh Văn Giác (mahāsāvakabodhi) như sự giác ngộ của Tôn-giả Đại Ca-diếp(Mahākassapa) và Tôn-giả Ananda,  và Thường Thinh Văn Giác (pakatisāvakabodhi). Thời Đức Phật có tám mươi vị đại đệ tử kể cả Tôn-giả Xá-lợi-phất (Sāriputta) và Mục-kiền-liên (Mogallāna). Ngày nay không còn các vị tối thượng đệ tử và đại đệ tử nữa, mà chỉ còn các vị đệ tử thường mà thôi. Một người muốn tự mình giải thoát có thể, tuỳ theo ước nguyện của mình, thành tựu mục đích ấy qua sự chứng đắc một trong ba loại giác ngộ vừa kể.

Đại Thừa của Đạo Phật Nguyên Thủy (Phần 1) - Tác giả: Pa Auk Sayadaw


Cổ Xe Đại Giác ( Phần I)
Tác giả: Pa Auk Sayadaw
Việt dịch: Tỳ khưu PHÁP THÔNG
VIÊN KHÔNG, TL. 2002 – PL. 2546

Mục lục 
 
1. Thế nào là Ba-la-mật (Pāramīs)

2. Các pháp này được gọi là Ba-la-mật theo
nghĩa gì 


3. Có bao nhiêu pháp Ba-la-mật

4. Gì là trình tự của các pháp Ba-la-mật 
5. Thế nào là những đặc tính, nhiệm vụ,
sự thể hiện và nhân gần của các Ba-la-mật
6. Thế nào là những điều kiện căn bản cho Ba-la-mật
       
Đại nguyện
       . Đại bi và phương tiện thiện xảo trí
       . Phật Địa hay bốn nền tảng để Đắt thành Phật
       . Mười sáu khuynh hướng tâm
 
7. Hỏi và Đáp
*Chương sách liên quan:

Đại Thừa của Đạo Phật Nguyên Thủy (Phần 2) - Tác giả: Pa Auk Sayadaw


Cổ Xe Đại Giác ( Phần 2)

Tác giả: Pa Auk Sayadaw
Việt dịch: Tỳ khưu PHÁP THÔNG
VIÊN KHÔNG, TL. 2002 – PL. 2546
Mục lục
 
   1. Bố thí Ba-la-mật
   2. Giới Ba-la-mật
   3. Xuất gia Ba-la-mật
   4.  Trí tuệ Ba-la-mật
   5. Tinh tấn Ba-la-mật
   6.  Nhẫn nại Ba-la-mật
7. Chân thật Ba-la-mật
8. Quyết định Ba-la-mật
9. Tâm từ Ba-la-mật
        
Tâm Từ của Đức Phật

10.  Xã Ba-la-mật
11. Hỏi và Đáp

Đại Thừa của Đạo Phật Nguyên Thủy (Phần 3) - Pa Auk Sayadaw

Cổ Xe Đại Giác ( Phần 3)

Việt dịch: Tỳ khưu PHÁP THÔNG
VIÊN KHÔNG, TL. 2002 – PL. 2546


Mục lục

1. Những yếu tố nào làm ô nhiễm các Ba-la-mật
2. Những yếu tố nào làm trong sạch các Ba-la-mật
3. Những yếu tố nào đối nghịch với các Ba-la-mật
4.Thế nào là phương pháp thực hành chi tiết các Ba-la-mật
5. Ngoại tài thí được làm như thế nào ?
6. Nội tài thí được làm như thế nào ?
7. Hai  mục đích của bố thí
8. Thí vô uý
9. Thí Pháp
10. Giới Ba-la-mật được hoàn thành như thế nào?
11. Vị bồ tát giử giới kiêng tránh như thế nào ?
12. Vị Bồ Tát giử giới thực hành( các trì giới) như thế nào ?
13. Xuất gia Ba-la-mật được hoàn thành như thế nào ?
14. Trí tuệ Ba-la-mật được hoàn thành như thế nào?
15. Văn tuệ ( trí tuệ phát sanh do nghe)
16. Tư tuệ (trí tuệ phát sanh do suy luận)
17. Tu tuệ ( trí tuệ phát sanh do tu tập)
18. Tinh tấn và các Ba-la-mật khác được hoàn thành như thế nào ?
19. Các Ba-la-mật được phân tích như thế nào ?
20. Những yếu tố để hoàn tất các Ba-la-mật  là gì?
21. Thời gian đòi hỏi để hoàn thành các Ba-la-mật là bao lâu ?
22. Ba loại Bồ Tát
23. Không thể chứng Phật quả sớm hơn
24. Những lợi ích có được từ các Ba-la-mật này là gì ?
25. Gì là quả của Ba-la-mật ?
26. Hỏi và đáp