Chúng
ta quen gọi là Bát Chánh Đạo, nhưng thật ra, cụm từ Pāḷi nghĩa là Bát
Đạo (Aṭṭhaṅgikamagga) hay Bát Thánh Đạo (Ariyaṭṭhaṅgikamagga); tất cả
chúng đều chỉ Sự Thật Về Con Đường Đi Đến Nơi Diệt Khổ (Dukkha
Nirodhamaggasacca), tức là Đạo Đế. Nó có 8 chi phần: Chánh Kiến
(sammādiṭṭhi), Chánh Tư Duy (sammāsankappa), Chánh Ngữ (sammāvāca),
Chánh Nghiệp (sammākammanta), Chánh mạng (sammā-ājīva), Chánh tinh tấn
(sammāvāyāma), Chánh Niệm (sammāsati), Chánh định (sammāsamādhi).Pháp mà Đức Phật nói ra mục đích là để THỰC HÀNH; BÁT CHÁNH ĐẠO phải được thực hành cùng một lúc và tròn đầy thì ĐẠO và QUẢ sẽ trỗi lên khi đủ CHẤT và LƯỢNG.
BÁT CHÁNH ĐẠO - Minh Đức Triều Tâm Ảnh (tỳ kheo Giới Đức)
Chúng
ta quen gọi là Bát Chánh Đạo, nhưng thật ra, cụm từ Pāḷi nghĩa là Bát
Đạo (Aṭṭhaṅgikamagga) hay Bát Thánh Đạo (Ariyaṭṭhaṅgikamagga); tất cả
chúng đều chỉ Sự Thật Về Con Đường Đi Đến Nơi Diệt Khổ (Dukkha
Nirodhamaggasacca), tức là Đạo Đế. Nó có 8 chi phần: Chánh Kiến
(sammādiṭṭhi), Chánh Tư Duy (sammāsankappa), Chánh Ngữ (sammāvāca),
Chánh Nghiệp (sammākammanta), Chánh mạng (sammā-ājīva), Chánh tinh tấn
(sammāvāyāma), Chánh Niệm (sammāsati), Chánh định (sammāsamādhi).TẬP THỞ - Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Đức Phật dạy: “Nầy,
các thầy tỳ-khưu! Đây là con đường độc nhất để thanh lọc tâm (an tịnh,
thanh tịnh) cho chúng sanh, vượt thoát sầu bi (sầu buồn, bi ai), diệt
trừ ưu não (ưu tư, phiền não), thành tựu chánh trí và chứng ngộ
Niết-bàn. Đó là Tứ niệm xứ.”
Tức là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm và niệm pháp.
Trước khi đi sâu vào nội dung tu tập ấy, chúng ta cần phải biết tập
thở trước. Thở nó rất quan trọng. Nó là căn bản của cả thiền định và
thiền tuệ.
THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN (Paticca samuppāda) - Minh Đức Triều Tâm Ảnh
THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN
(Paticca samuppāda)
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Duyên
khởi là giáo pháp tinh yếu, cốt tủy của đạo Phật. Đức Phật sau khi
thành Đạo dưới cội Bồ-đề, Ngài đã để dành bảy ngày đầu tiên để chứng
nghiệm hạnh phúc giải thoát. Trong đêm cuối cùng của bảy ngày ấy, Ngài
quán xét Thập Nhị Nhân Duyên theo chiều thuận, như sau:
(Paticca samuppāda)
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Duyên
khởi là giáo pháp tinh yếu, cốt tủy của đạo Phật. Đức Phật sau khi
thành Đạo dưới cội Bồ-đề, Ngài đã để dành bảy ngày đầu tiên để chứng
nghiệm hạnh phúc giải thoát. Trong đêm cuối cùng của bảy ngày ấy, Ngài
quán xét Thập Nhị Nhân Duyên theo chiều thuận, như sau:
- Tùy thuộc vô minh (avijjā), hành (saṅkhāra) phát sanh.
- Tùy thuộc hành (saṅkhāra), thức (viññāṇa) phát sanh.
- Tùy thuộc thức (viññāṇa), danh-sắc (nāmarūpa) phát sanh.
- Tùy thuộc danh-sắc (nāmarūpa), lục nhập (salāyatana) phát sanh.
- Tùy thuộc lục nhập (salāyatana), xúc (phassa) phát sanh.
- Tùy thuộc xúc (phassa), thọ (vedanā) phát sanh.
SINH KÝ TỬ QUY - Ajahn Chah
Trong bài này Đaị sư Ajahn Chah, một
vị sư Thái lan có lối giảng dậy thật giản dị, chân thực
đã thu hút được nhiều đệ tử tây phương, nói chuyện với một nữ đệ tử già yếu
đang sắp chết. Bằng một giọng trầm tĩnh sâu xa, đại sư nhắc lại cho bà nghe về
lý vô thường, và dạy những
phương tiện để đối phó với những đau khổ
-- trước tiên là niệm chú, rồi tập trung tư
tưởng vào hơi thở. Niệm chú ở đây không có ý nghĩa thần bí gì, mà chỉ là dùng
những câu nói có năng lực tốt lành diệu dụng để bảo vệ tâm trí khỏi những khởi
niệm về trạng thái đau khổ của một người
đang nằm trên giường bệnh. Khi tâm dần
dần lìa khỏi những khởi niệm tự phát nơi thân và bắt đầu cảm
nhận được
những năng lực tốt lành, sự lo sợ sẽ tan đi và thay vào đó là một trạng thái an tĩnh đủ để cho tâm tập trung
được vào nhịp lên xuống của hơi thở.
PHÁP LUYỆN TÂM - Ajahn Chah
PHÁP LUYỆN TÂM Ajahn Chah
Phạm Kim Khánh & Sumanā Lê Thị Sương chuyển ngữ Việt
Phạm Kim Khánh & Sumanā Lê Thị Sương chuyển ngữ Việt
(Dưới
đây là thời Pháp do Ngài AJAHN CHAH thuyết giảng tại chùa Bovornives,
Bangkok, vào năm 1977, trước một cử tọa gồm chư Tăng Thái và một nhóm tỳ
khưu người Tây Phương.)
Vào thời của các Ngài Thiền Sư Ajahn Mun [1] và Ajahn Sao [2], đời
sống thật là giản dị, ít phức tạp hơn ngày nay nhiều. Trong những ngày
xa xưa ấy có rất ít Phật sự phải làm và rất ít nghi lễ để cử hành. Các
Ngài sống giữa rừng sâu, không cố định một nơi nào. Trong hoàn cảnh
tương tợ các Ngài có thể dành trọn vẹn thì giờ của mình để hành thiền.
Những tiện nghi mà ngày nay ta xem là thông thường, ai cũng có, vào
thời ấy thật là hiếm hoi; đúng ra là không có tiện nghi gì hết. Các Ngài
phải dùng ống tre để làm ly uống nước và ống nhổ, còn thiện tín cư sĩ
thì chẳng có ai tới lui thăm viếng. Các Ngài không ham muốn, cũng không
cầu mong gì nhiều mà chỉ an phận, vui vẻ với những gì mình đang có. Các
Ngài có thể sống và hành thiền, sống và hành thiền cũng tợ như sống và
thở.
Nghĩ ngơi thân và tâm - Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Tôi đi từ cụm từ“thư xả” để bắt
đầu cho buổi nói chuyện về thiền định và thiền tuệ hôm nay. Tôi sẽ nói
đơn giản thôi. Đơn giản với ngôn ngữ đời thường cho ai cũng nghe được,
hiểu được. Và ai cũng có thể thực hành được. Tôi sẽ tự giới hạn không sử
dụng thuật ngữ Phật học hay thiền học vì nó phức tạp lắm, nhất là đối
với những người không phải là Phật tử lâu năm, hoặc không phải là hành
giả trong một lớp thiền nào đó.
Thư xả là nghỉ ngơi toàn bộ thân và tâm, nghĩa là thân phải thư giãn, tâm phải buông xả. Tại sao thân tâm phải thư giãn, buông xả?
Sưu tập: ĐỊNH NGHĨA CỦA CHÁNH ĐỊNH (Sammā Samādhi) trong Kinh Điển Pali
I. NĂM ĐẶC TÍNH CUẢ CHÁNH ĐỊNH
Khái niệm Chánh Định (sammasamādhi ) trong Đạo Phật nguyên thủyđược đề cập tới trong bài KINH ĐỊNH trong Tăng Chi Bộ, chương năm pháp
http://www.budsas.org/…/u-kinh…/tangchi05-0106.htm
- Chánh Định có thể nhận biết dựa trên năm yếu tố (đặc tính) như bài kinh Định đã đưa ra:
1. Ðịnh này hiện tại lạc và tương lai có quả dị thục lạc, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên.
2. Ðịnh này thuộc bậc Thánh, không thuộc vật chất, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên.
3. Ðịnh này không do người ác thực hiện, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên.
4. Ðịnh này an tịnh, thù diệu, đem đến khinh an, đạt được nhất tâm, không phải là sự chế ngự gò ép thường xuyên, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên.
5. “An tịnh, ta nhập định này. An tịnh, ta xuất khỏi định này”, trong mỗi người trí (như vậy) khởi lên.
Tam Pháp Ấn: VÔ THƯỜNG, KHỔ, VÔ NGÃ - Hòa thượng Viên Minh
Vô
thường, khổ và vô ngã được gọi là Tam Pháp Ấn, tức là 3 ấn tướng hay 3
yếu tính trong cùng một pháp chứ không phải là 3 thành phần riêng biệt
với nhau. Vì vậy chỉ cần thấy được một trong ba tính chất này tức là đã
thấy được thực tính pháp, nên ngay đó liền thấy được hai tính chất còn
lại, chứ không phải thấy yếu tính này xong rồi mới tìm hiểu yếu tính
kia.
Khi nói đến Vô Thường, Khổ, Vô Ngã thì chúng ta cần lưu ý, đó là nói đến bản chất tự nhiên của pháp, hay nói đến nhận thức của mình về bản chất ấy. Thường thì người ta nhầm lẫn giữa nhận thức của mình về khái niệm (chế định) vô thường, khổ, vô ngã với bản chất thật (thực tính) của pháp.
Khi nói đến Vô Thường, Khổ, Vô Ngã thì chúng ta cần lưu ý, đó là nói đến bản chất tự nhiên của pháp, hay nói đến nhận thức của mình về bản chất ấy. Thường thì người ta nhầm lẫn giữa nhận thức của mình về khái niệm (chế định) vô thường, khổ, vô ngã với bản chất thật (thực tính) của pháp.
NGŨ CĂN (Pañcindriya) NGŨ LỰC (Pañcabala) - Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Indriya có nghĩa là căn, gốc, khả năng, làm chủ, cốt yếu... Bala là lực, là sức mạnh. Vậy
ngũ căn là 5 trạng thái tâm căn bản, 5 yếu tố tâm lý căn bản có khả năng kiểm soát
tâm, làm chủ tâm. Và khi mà ngũ căn được tu tập, làm cho sung mãn thì sẽ biến thành ngũ lực; tức là tạo nên 5 sức mạnh,
hỗ trợ hữu hiệu cho hành giả thực hành
thiền định và thiền tuệ.
BỐN PHÁP TẾ ĐỘ (Tứ Nhiếp Pháp) - Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Bốn pháp tế độ phát xuất từ cụm từ saṅgāha vattha nghĩa là sự thu phục, nhiếp hóa, cảm hóa, tế độ. Đây
là 4 pháp, 4 nguyên tắc sống mà tiền thân chư Phật, tức chư Bồ-tát
thường áp dụng để nhiếp hóa, cảm hóa chúng sanh, hướng dẫn chúng sanh
trên con đường phước thiện, đạo đức. Bốn
pháp này liên hệ hữu cơ, gắn bó thiết cốt với nhau, như một cái bàn có
bốn chân, thiếu một thì cái bàn sẽ khập khiễng. Cũng vậy, bốn pháp tế độ
mà thiếu một thì sự cảm hóa chúng sanh sẽ giảm hẳn hiệu năng.
Vậy 4 pháp ấy là gì?
MƯỜI NGHIỆP LÀNH - Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Người, vật, chim muông, hoa lá, cỏ cây,
lâu đài, phố thị, làng mạc... đều nương tựa trên mặt đất. Cũng vậy, chúng sanh hữu
tình, các bậc trí tuệ, chư thánh nhơn, đức Phật... cũng do 10 nghiệp lành mà có
sắc thân, tướng mạo, y báo, chánh báo sai khác, dị đồng... Tất cả phải nương
tựa nơi 10 nghiệp lành vậy.
Mười nghiệp lành không những ngăn giữ chúng sanh
khỏi bị đọa lạc vào bốn con đường đau khổ, mà còn mở cánh cửa thênh thang hạnh
phúc an vui của phước báu nhân thiên sang cả. Mười nghiệp lành thường quyết
định duyên lành, làm cho thông minh sáng láng, học hành thành đạt, sự nghiệp
hanh thông, gia đình ấm êm và cả trí tuệ thông hiểu con đường xuất ly ba cõi
nữa.
Người Phật tử sau khi thọ Tam qui, Ngũ giới, Bát
quan trai giới thì nên tu tập thêm thập thiện nghiệp để làm hành trang, tư
lương tối thắng cho mình giữa thế gian cát bụi, lắm nghiệt ngã và nhiều khổ đau
này.
Và
thập thiện nghiệp ấy là gì?
Sự tái sinh - Thích Phước Sơn
Chính
nghiệp, bắt nguồn từ vô minh và khát vọng tạo điều kiện cho tái sinh.
Nghiệp quá khứ, tạo điều kiện cho kiếp sống hiện tại và nghiệp hiện tại
kết hợp với nghiệp quá khứ làm duyên cho đời sống tương lai. Hiện tại
chỉ là con đẻ của quá khứ, và đến lượt nó - lại là cha mẹ của vị lai.
Bao lâu
nghiệp lực còn thì còn tái sinh, vì chúng sinh chỉ là những biểu hiện
hữu hình của nghiệp lực vô hình này. Chết chỉ là chấm dứt tạm thời hiện
tượng vô thường này. Đó không phải tiêu diệt hoàn toàn cái được gọi là
sinh linh này. Đời sống hữu cơ đã kết thúc, nhưng nghiệp lực đã thúc đẩy
đời sống từ trước đến giờ vẫn chưa bị hủy diệt. Vì nghiệp lực hoàn toàn
không bị chi phối bởi sự tan rã nhục thân tạm bợ này, nên sự ra đi của
kiết sinh thức trong hiện tại chỉ tạo điều kiện cho một thần thức mới
tái sinh một đời sống khác.
HỎI ĐÁP VỚI NHÀ SƯ AJAHN CHAH - Jack Kornfield
HỎI ĐÁP VỚI NHÀ SƯ AJAHN CHAH
Jack Kornfield
Hoang Phong chuyển ngữ
Jack Kornfield
Hoang Phong chuyển ngữ
Vài lời ghi chú của
người dịch
Các
câu hỏi và lời giải đáp được chuyển ngữ dưới đây là do Jack Kornfield ghi chép trong
một buổi giảng của nhà sư Ajahn Chah vào một mùa kiết hạ cách nay cũng đã hơn
40 năm tại ngôi chùa Wat Nong Pa Pong trong một khu rừng ở miền đông-bắc nước
Thái.
Jack Kornfield là một người Mỹ sinh
năm 1945, đỗ tiến sĩ tâm lý học trị liệu năm 1967, ngay sau đó đã gia nhập tổ chức
thiện nguyện Peace Corps và đã được gửi đi Thái Lan trong một chương trình giúp
đỡ những người nghèo khó sinh sống dọc bờ sông Mê Kông. Trong dịp này ông đã
gặp Ajahn Chah và trở thành đệ tử của nhà sư này. Ông được thụ phong tỳ kheo và
tu tập ở Thái Lan trong nhiều năm, sau đó ông sang Miến Đìện để tu học thêm với
nhà sư Mahasi Sayadaw và cũng đã đến Ấn Độ để tìm hiểu thêm về Phật Giáo. Trở
về Mỹ năm 1972, ông thành lập trung tâm Insight Meditation Society ở tiểu bang Massachusetts. Năm 1981 ông thành lập
trung tâm Spirit Rock Center dạy thiền Vipassana tại tiểu bang California. Ông thuyết
giảng khắp nơi trên thế giới. Các sách của ông đã được dịch ra 20 thứ tiếng và
bán được hàng triệu quyển.Chúng ta phải thực hành Giáo Pháp như thế nào? - Ven. K. Sri Dhammananda

Ngày nay chúng ta có các Phật tử theo truyền thống Nguyên thủy, Ðại thừa, Kim cang thừa, theo truyền thống Trung Hoa, Thái Lan, Miến Ðiện, Sri Lanka, Tây Tạng, Nhật Bản và Ấn Ðộ. Cũng có một số người chấp nhận theo "Phật giáo Tây phương". Một số niềm tin và cách thực hành của họ được pha trộn gồm các niềm tin và sự thực hành của tôn giáo khác, rất xa lạ với tinh thần của Giáo pháp nguyên thủy. Tuy vậy, những niềm tin và phương pháp thực hành này vẫn được chấp thuận do sự khoan dung.
Niết Bàn là SỰ DIỆT KHỔ MÃI MẢI - Piyadassi Thera
Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa của Sự Diệt Khổ (Dukkha-Nirodha) mà thường được hiểu là Niết bàn. Nghĩa theo từ nguyên của Nirvàna (Sanskrit) được giải thích là ni + vàna, thoát khỏi tham ái, dứt trừ tham ái, hoặc nir + và, ngừng thổi hay bị dập tắt.
Mặc dù những ý nghĩa theo từ nguyên của Pàli và Sanskrit này có thể giúp chúng ta hiểu được danh từ, nhưng nó không giúp chúng ta chứng nghiệm được hạnh phúc của Niết bàn. Sự chứng đắc, như chúng ta sẽ thấy trong phát xuất từ Giới (Sìla), Ðịnh (Samàdhi) và Tuệ (Pannà). Niết bàn là một Pháp (Dhamma), một kinh nghiệm rất khó có thể giải thích vì tính chất tế vi của nó. Niết bàn thường được hiểu là pháp siêu thế (Lokuttara), tuyệt đối, vô vi (Asamkhata). Niết bàn được bậc trí chứng đắc, tự mỗi người ngộ lấy cho chính mình.
Mặc dù những ý nghĩa theo từ nguyên của Pàli và Sanskrit này có thể giúp chúng ta hiểu được danh từ, nhưng nó không giúp chúng ta chứng nghiệm được hạnh phúc của Niết bàn. Sự chứng đắc, như chúng ta sẽ thấy trong phát xuất từ Giới (Sìla), Ðịnh (Samàdhi) và Tuệ (Pannà). Niết bàn là một Pháp (Dhamma), một kinh nghiệm rất khó có thể giải thích vì tính chất tế vi của nó. Niết bàn thường được hiểu là pháp siêu thế (Lokuttara), tuyệt đối, vô vi (Asamkhata). Niết bàn được bậc trí chứng đắc, tự mỗi người ngộ lấy cho chính mình.
CON ĐƯỜNG GIÁC NGỘ -- PHIM PHẬT GIÁO VIETNAM
CON ĐƯỜNG GIÁC NGỘ
PHIM PHẬT GIÁO
Published on Dec 9, 2013
Chùa Hoằng Pháp Phát Hành, trọn bộ 4 DVD, có phụ đề Tiếng Anh.
Đạo diễn: Công Hậu English Subtitle.
Tập 1
PHIM PHẬT GIÁO
Published on Dec 9, 2013
Chùa Hoằng Pháp Phát Hành, trọn bộ 4 DVD, có phụ đề Tiếng Anh.
Đạo diễn: Công Hậu English Subtitle.
Tập 1
VỊ TRÍ CỦA THIỀN QUÁN TRONG TU TẬP PHẬT GIÁO - Thanissaro Bhikkhu
VỊ TRÍ CỦA THIỀN QUÁN TRONG TU TẬP PHẬT GIÁO
(A Tool Among Many: The Place of Vipassana in Buddhist Practice )
Tác giả: Thanissaro Bhikkhu
Việt dịch : Trần Như Mai

(A Tool Among Many: The Place of Vipassana in Buddhist Practice )
Tác giả: Thanissaro Bhikkhu
Việt dịch : Trần Như Mai

Đôi
nét về tác giả
: Tỷ Kheo Thanissaro ( Geoffrey
Degraff, 1949 - ) là một nhà sư Phật
giáo người Mỹ, theo truyền thống khổ hạnh Sơn Lâm của Thái Lan ( Thai Forest
Tradition). Sau khi tốt nghiệp Đại học Oberlin College năm 1971 về ngành Lịch Sử
Tri Thức Âu châu, sư du hành đến Thái Lan và học Thiền dưới sự hướng dẫn của Ajahn
Fuang Jotiko, Sư Jotiko là đệ tử của ngài Ajahn Lee. Sư Thanissaro xuất gia năm
1976 và tu học tại chùa Wat Dammasathit, và vẫn ở lại chùa này sau khi sư phụ viên tịch vào năm 1986.
Vào năm 1991, sư du hành đến các vùng đồi núi của San Diego County ( Hoa Kỳ),
và giúp Ajahn Suwat Suwaco thành lập Chùa Wat Mettavanaram ( Metta Forest
Monastery). Sư được chọn làm trụ trì của
chùa này vào năm 1993. Sư Thanissaro đã xuất bản nhiều tác phẩm và dịch phẩm, gồm
có các cuốn cẩm nang tu thiền của Ajahn Lee dịch từ tiếng Thái sang tiếng Anh :
Handful of Leaves ( Một Nắm Lá , là một hợp tuyển kinh tạng Pali gồm 4 tập
); ( The Buddhist Monastic Code (Luật Lệ Tu Viện Phật Giáo, là cẩm nang tham khảo của tăng sĩ , gồm hai tập); Wings to Awakening ( Cánh Cửa
Giải Thoát, là một hợp tuyển kinh tạng Pali); đồng tác giả của bộ sách giáo khoa trình độ đại
học là Buddhist Religions: A Historical Introduction (Lịch Sử Phật Giáo
Nhập Môn ); The Mind Like Fire Unbound ( Tâm Như Lửa Cháy Bùng ); The Paradox of Becoming (
Sự Mâu Thuẫn của Hữu); The Shape of Suffering (Sự Hình Thành của Khổ ); Dhammapada
: A Translation ( Bản Dịch Kinh Pháp Cú ); Skill in Questions ( Kỹ
Năng Đặt Câu Hỏi)… và Collections of Essays on Buddhist Practice (Tuyển Tập các Bài Luận về Tu Tập Phật Giáo)
cũng như hằng trăm bài pháp thoại đã được phiên tả và xuất bản…Hiện nay Tỷ Kheo
Thanissaro vẫn là Trụ trì Tu viện Metta Forest Monastery ( San Diego, Hoa Kỳ).Lời di huấn sau cùng của Đức Phật
Dưới đây là tóm tắt những lời dặn dò cuối
cùng của Phật. Thật ra Phật đã đau yếu từ ba tháng trước và đã khởi sự
dặn dò người đệ tử thân cận nhất là A-nan-đà. Phật bảo A-Nan-Đà tập họp
các đệ tử để nghe giảng và thông báo trước sự tịch diệt của mình. Lúc ấy
Phật đã 80 tuổi. Trong những tháng cuối cùng, Phật đã gầy còm và mệt
mỏi, nhưng vẫn đi thuyết giảng như thường, tuy không còn đi xa được nữa.
A-Nan-Đà xin Phật hãy tĩnh dưỡng trong những ngày còn lại, nhưng Ngài
khoát đi và dạy rằng :
GIỚI ĐỊNH TUỆ của BÁT CHÁNH ÐẠO _ Piyadassi Thera
Trước khi nhập diệt (Niết bàn) Ðức Phật cho gọi các hàng đệ tử lại và căn dặn: "Pháp
và Luật (Dhamma vinaya) Như Lai đã giảng giải và ban hành cho các con,
sau khi Như Lai diệt độ, chính Pháp và Luật này sẽ là Ðạo Sư của các con[1]".
Từ
lời di huấn này, chúng ta thấy rõ rằng đường lối tu tập của Ðức Phật,
hệ thống Tôn giáo của Ngài, bao gồm Pháp và Luật. Luật hàm ý sự toàn hảo
về phương diện đạo đức, chế ngự những hành động của thân và khẩu, phép
tắc cư xử trong đạo Phật. Tất cả những điều này thường được gọi là Sìla (giới) hay học giới, pháp đề cập đến việc tu tập tâm, chế ngự tâm, đó là thiền hay sự phát triển Ðịnh Tâm (Samàdhi) và Trí Tuệ (Pannà).
Ba phần Giới, Ðịnh và Tuệ này là những lời dạy căn bản nếu được tu tập
một cách thận trọng và trọn vẹn sẽ nâng con người từ thấp lên cao; đưa
họ từ bóng tối ra ánh sáng, từ tham dục đến xả ly, và từ loạn động đến
tịnh lặng.
Những câu nói khích lệ tinh thần
Thiền - phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc (Lương y Võ Hà)
Lời Phật dạy về việc ca hát của tứ chúng
Này các tỳ-khưu, không nên ngâm nga
giáo pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài; vị nào ngâm nga thì phạm
tội dukkata (tác ác) – (Luật tạng, Tiểu phẩm).
1. Cư sĩ tại gia
Đối với người cư sĩ tại gia nguyện giữ
5 giới căn bản, ca hát không là vấn đề. Đức Phật không ngăn cấm người
cư sĩ ca hát, sử dụng âm nhạc. Điều quan trọng là gìn giữ tâm ý, không
để lôi cuốn, loạn động bởi âm thanh qua bài ca, tiếng hát, nhạc điệu. Âm
nhạc và ca hát – đối với hàng cư sĩ – nếu biết sử dụng khéo léo, đúng
thời, đúng mục đích, là một phương tiện truyền thông tốt trong các sinh
hoạt Phật giáo.
Nghệ thuật giao tiếp trong kinh điển Phật giáo - Chúc Phú
NSGN - Chính phải đàm đạo mới biết được trí tuệ của một người, và phải trong một thời gian dài không thể khác được1.
Sự khẳng định của câu kinh vừa nêu đã đồng thời cho thấy, quá trình
trao đổi thông tin giữa người với người mà thuật ngữ chuyên ngành hôm
nay gọi là nghệ thuật giao tiếp, đã được ghi nhận và lưu tâm từ thời Đức
Phật. Với Phật giáo, việc giao tiếp giữa các cá nhân nhằm truyền đạt
thông tin là điều rất mực quan trọng, nhất là những thông tin liên quan
đến lộ trình khai phóng tâm linh và đoạn tận đau khổ.
Mẫu hình người cư sĩ lý tưởng - Chúc Phú
![]() |
Ý nghĩa của “niết bàn” theo quan điểm Phật giáo
Theo quan điểm tâm lý học thì Niết bàn là xóa bỏ tự ngã. Theo quan điểm đạo đức thì Niết bàn là diệt tham, sân và si.
Quá trình sinh tử này tiếp tục vô tận cho đến khi chuyển hóa thành cảnh giới Niết bàn: cứu cánh của các Phật tử.
Cảm xúc thiền để đạt được giác ngộ cao nhất
Thiền, có xuất xứ từ Ấn Độ cổ đại,
được xem là một phương pháp giáo dục con người một cách toàn diện, hướng
con người đến chân – thiện – mỹ, rèn luyện con người phát triển thể lực
và trí lực một cách hài hoà và tốt đẹp. Giá trị lý luận và thực tiễn
của nó càng được khẳng định khi hiện nay trên toàn thế giới, nhất là các
nước phương Tây đã và đang quan tâm, và hướng về nó một cách tích cực.
Bí ẩn 7 viên xá lợi của ni cô sau khi viên tịch ở Quảng Ninh
Điều kỳ diệu sau khi viên tịch
Vượt qua quãng đường hơn 200km từ Hà Nội, chúng tôi có mặt tại Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm (chùa Cái Bầu). Ấn tượng đầu tiên với chúng tôi là quy mô hoành tráng và không gian tĩnh mịch của một Thiền viện dành cho các nữ tăng tĩnh tâm tu đạo.
Thiền viện nằm ngoài khu vực dân cư, tránh xa khỏi những ồn ào xô bồ của đời thường, đây cũng có thể coi là điểm đến cuối cùng trong chuyến hành trình tôn giáo về phía Đông Bắc Tổ quốc, qua Yên Tử, đền Cửa Ông, đền Cặp Tiên...
Đời sống lành mạnh - Tiến sĩ Andrew Olendzki

Tìm hiểu về Nghiệp - Hòa thượng Silānanda
Nghiệp báo

Rợn mình với câu chuyện về kiếp luân hồi của đôi lứa yêu nhau
Vào tháng 9 năm 1978, bà Catherine Wright sống ở Texas, Mỹ, gọi điện đến Đại học Virginia xin gặp giáo sư Ian Stevenson, người đang nổi tiếng vì những cuộc khảo cứu hiện tượng luân hồi đương đại. Bà muốn ông kiểm tra xem có đúng Michael, con trai bà, chính là anh bạn trai đã chết đầu thai trở lại như cậu bé nói hay không. Chồng bà thì dứt khoát coi đó là chuyện nhảm nhí, làm sao chấp nhận nổi thằng con vàng ngọc lại chính là “tình địch” của mình?
Tứ niệm xứ - Thiền nội quán Vipassana - Taungpula Kaba-Aye Sayadaw Phaya

Hỡi
các hành giả cao thượng! Tại sao các hành (Sankhara) của chúng sanh
sinh khởi? Đức Phật dạy rằng các hành của chúng sanh sinh khởi nguyên
nhân là do vô minh và tham ái (avijja và tanha)
"Yaya ca bhikkhave, avijjaya nivutassa Balassa
Yaya ca tanhaya samyuttassa ayam kayo samudagato "
Câu này có nghĩa là này cácTỷ-kheo, bị che lấp bởi vô minh (avijja) kết hợp với tham ái nên tấm thân của kẻ xuẩn ngốc này hình thành.
Yaya ca tanhaya samyuttassa ayam kayo samudagato "
Câu này có nghĩa là này cácTỷ-kheo, bị che lấp bởi vô minh (avijja) kết hợp với tham ái nên tấm thân của kẻ xuẩn ngốc này hình thành.
Sự quan trọng của Chánh niệm (Kinh Đại Niệm Xứ) - Thiền Sư U Sīlānanda

Vài lời giới thiệu
Từ lâu tôi luôn nghĩ rằng thực hành thiền Minh Sát là thực hành chánh niệm. Tôi nhận xét rằng tất cả những phương pháp hành thiền của những thiền sư hiện đại đều dạy thực hành chánh niệm trong kinh Tứ Niệm Xứ.
Từ lâu tôi luôn nghĩ rằng thực hành thiền Minh Sát là thực hành chánh niệm. Tôi nhận xét rằng tất cả những phương pháp hành thiền của những thiền sư hiện đại đều dạy thực hành chánh niệm trong kinh Tứ Niệm Xứ.
Mỗì một thiền sư danh tiếng tự chọn cho mình một “chuyên môn” theo
kết quả kinh nghiệm cá nhân, nhưng chung quy vẩn dạy chánh niệm trong
thiền Tứ Niệm Xứ hay thiền Minh Sát, hay Vipassana. Hiện nay danh từ
Vipassana thường dùng để chỉ thiền Minh Sát, hay Tứ Niệm Xứ, rất phổ
thông trong cộng đồng tu thiền.
Vượt qua buồn chán và trầm cảm - Ajahn Jagaro

Vượt
qua buồn chán và trầm cảm xem ra là một chủ đề thú vị. Tất nhiên, bạn
chẳng bao giờ biết sau khi vượt qua nó xong, kế tiếp sẽ là gì - thậm
chí kết quả có thể còn tồi tệ hơn - nhưng tôi chắc chắn rằng hầu hết
mọi người đều mong đợi “vượt qua” mang một ý nghĩa tốt đẹp hơn.
Bài pháp thoại này chủ yếu là một sự suy niệm dựa trên những kinh
nghiệm rất phổ biến của con người mà chúng ta ai cũng có.
Thái Lan: Wat Khunaram và nhục thân bất hoại của ngài Loung Pordaeng

An lạc vượt ngoài thế gian - Ajahn Chah
Đức Phật không ca ngợi những ai chỉ tin tưởng suông nơi người khác.
Ngài tán dương người hiểu biết bên trong chính mình.
Sống với Pháp trong cuộc đời - Ajahn Chah

Có
một số người vẫn chưa hiểu tính chất của sự thực tập Thiền. Họ nghĩ
rằng thiền hành, tọa thiền và nghe pháp thoại là thực tập.
Thật là như vậy, nhưng đây chỉ là những thực tập phiến diện, sự thực
tập thật ra nằm nơi phần tinh thần, với một đối tượng. Ðấy mới là sự
thực tập thật sự. Ví dụ khi người ta nói một điều gì đó mà mình không
thích thì sự bực dọc, tức tối nổi lên; nếu họ nói gì đó mà ta thích thì
ta vui vẻ và đồng lòng. Và đấy là lúc mà ta cần phải thực tập. Thực
tập như thế nào ? Ðây mới là vấn đề chính.
Chánh niệm tỉnh giác - Ni sư Ayya Khema

Đó
là bốn căn bản chánh niệm: thân thọ tâm và pháp. Chánh niệm là sự thuần
chú tâm; không kèm theo phán đoán. Đó chính là sự tỉnh giác hiểu biểt
rõ ràng rằng các cảm xúc, tình cảm, tâm hay pháp là thiện hay bất thiện,
để giúp chúng ta chuyển hóa.
Trong kinh Sa Môn Quả, Đức Phật còn phải giảng giải cho Potthapàda
nhiều điều để tu tập, trước khi chỉ dạy cho ông về phương pháp hành
thiền cũng như sự đoạn diệt tăng thượng tưởng. Giờ Đức Phật thuyết về
chủ đề chánh niệm và sự hiểu biết rõ ràng (tỉnh giác). Đây là phương
cách mà Ngài đã khai triển trong rất nhiều bản kinh: đầu tiên là gìn giữ
giới luật, kế đến là kiềm chế các căn, rồi đến chánh niệm và sự hiểu
biết rõ ràng (tỉnh giác). Hai điểm sau cùng đi đôi với nhau, thường được
nhắc đến cùng lúc. Sati là chánh niệm và Sampajanna là sự hiểu biết rõ
ràng.
Vipassana thực tiễn - Bhante Henepola Gunaratana

Có
lẽ bạn đã từng được khuyên rằng lúc nào cũng phải nên giữ chánh niệm,
cho dù bạn đang ở nhà hay trong văn phòng, hoặc ở trên xe buýt, trong
xe ô tô của bạn hoặc trong xe ô tô của người khác , v.v…
Bạn có thể hiểu ý của lời khuyên này là muốn lúc nào bạn cũng phải giữ sự chú tâm vào hơi thở của mình.
Trong khi lái xe , nếu chỉ đơn thuần giữ sự chú tâm vào hơi thở,
bạn có thể sẽ gặp phải một số vấn đề, chẳng hạn như không chú ý đến
việc lái xe hoặc bạn quên mình đang lái xe và có thể gặp tai nạn.
Quán sát nội tâm - Upasika Kee Nanayon

Tóm tắt Pháp hành
Phương pháp thực hành này rất dễ học, có ngay kết quả, và thích hợp ở mọi lúc, mọi nơi, và cho mọi lứa tuổi, cả nam lẫn nữ. Đó là sự thực hành ngay nơi thân này –cái thân cao dài hơn một sải– do tâm làm chủ.
Phương pháp thực hành này rất dễ học, có ngay kết quả, và thích hợp ở mọi lúc, mọi nơi, và cho mọi lứa tuổi, cả nam lẫn nữ. Đó là sự thực hành ngay nơi thân này –cái thân cao dài hơn một sải– do tâm làm chủ.
Thân này sở hữu rất nhiều thứ, từ thô đến tế, rất đáng cho chúng ta tìm hiểu.
Những ai muốn thực hành Pháp này cần tự tu tập để biết các tiến trình sau đây:
Những ai muốn thực hành Pháp này cần tự tu tập để biết các tiến trình sau đây:
Labels:
Thiên Tứ Niệm Xứ,
z Thiền Pháp Bốn Phương
Minh Sát Thiền do Ngài Mahasi Sayadaw truyền dạy - Viên Giác dịch
Minh Sát Thiền do Ngài Mahasi Sayadaw truyền dạy
Pháp hành Minh Sát Thiền là nỗ lực để hiểu một cách đúng đắn
bản chất hiện tượng tinh thần và thể lý trong thân thể người tu tập.
Hiện tượng thể lý là những việc hay vật mà người tu nhận thức một cách
rõ ràng quanh mình và bên trong mình. Toàn thể thân xác người tu gồm một
nhóm các phẩm chất thể lý. Hiện tượng tinh thần là họat động của ý thức
hay cái biết. Những điều này được nhận thức một cách rõ ràng bất cứ khi
nào các pháp được nhìn thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm
xúc, hay được nghĩ tới. Chúng ta phải tỉnh thức về các hiện tượng tinh
thần này bằng cách quan sát chúng và ghi nhận [niệm về] chúng như:
"[đang] thấy, thấy", "nghe, nghe", "ngửi, ngửi", "nếm, nếm", "sờ, sờ",
hay "nghĩ, nghĩ".Hướng dẫn hành thiền - Ajahn Chah

Có
một số đọc giả gửi email thắc mắc về việc hành thiền (định và quán),
hoặc có thể tu quán mà không nhập thiền được không? v.v và v.v…
Sau tìm đọc một số tài liệu, Supanna Thiện Trí nhận thấy bài giảng
của ngài Ajahn Chah có thể đáp ứng được thắc mắc chung của qúy đọc giả
nên đã dịch ra để gửi đến bạn đọc. Với lối giảng dạy giản dị nhưng sinh
động cùng với kinh nghiệm thực chứng, bài giảng của ngài có thể như là
một bản phác thảo rõ ràng về Con Đường. Hy vọng qúy đọc giả quan tâm đến
Pháp hành sau khi đọc xong bài này có thể hình dung được con đường đi
đến Giải thoát – Níp – bàn như thế nào và vững tin với Pháp hành mà
mình đã chọn.
Hãy tự mình tu tập! - Bhante Henepola Gunaratana

Đại
đức Ananda, thị giả của Đức Phật, đã phục vụ Đức Phật trong suốt 25
năm. Đã nhiều lần, Đức Phật yêu cầu ngài hãy cố gắng phấn đấu để đạt
được sự Giác ngộ.
Đại đức Ananda tinh thông các Pháp và mọi lý thuyết về thiền tập.
Tuy nhiên, do ngài hoan hỷ trong việc phục vụ cho Đức Phật và Tăng
chúng, ngài đã lờ đi mục tiêu Giác ngộ cho chính bản thân mình cho
đến khi - cuối cùng - do áp lực rất lớn từ 499 vị A-la –hán, những vị
được triệu tập cho cuộc kiết tập Kinh điển đầu tiên.
Thiền quán và bốn sự thật cao diệu - Thiền sư Mahasi Sayadaw

Chân
lý mà chúng ta phải thực chứng là chân lý có liên quan đến Tứ Diệu Đế,
Bốn Sự Thật Cao Diệu. Đó là: (1) Sự Thật về Khổ (Khổ đế), (2) Sự Thật về
Nguồn Gốc của Khổ (Tập đế), (3) Sự Thật về sự Diệt Khổ (Diệt đế), và
(4) Sự Thật về Con Đường đưa đến Diệt Khổ (Đạo đế).
Sự thật về Khổ có liên quan đến bản chất của năm uẩn (sắc, thọ,
tưởng, hành, thức). Theo Kinh Chuyển Pháp Luân, chúng ta phải thấu triệt
sự khổ nầy để thông hiểu một cách đúng đắn.
Bí mật của hơi thở - Bhante Henepola Gunaratana

Suy nghĩ có bao giờ ngưng không? -- Bhante Henepola Gunaratana

Đức Phật khuyên các Tỳ kheo, “
Này các Tỳ kheo, khi các ông tụ họp với nhau, các ông nên làm một
trong hai điều: Thảo luận về Giáo Pháp hoặc quan sát sự im lặng cao quý
"
Im lặng cao quý là trạng thái của tâm khi không có sự suy nghĩ. Tâm
hoàn toàn im lặng. Suy nghĩ chỉ có thể ngừng nếu chúng ta huấn luyện tâm
của chúng ta làm như vậy thông qua thiền tập đúng cách.
Quán niệm: Phương thuốc hữu hiệu để giảm đau - Tony Bernhard

Tony
Bernhard là giáo sư Luật học tại University of California trong suốt
22 năm kể từ lúc nhận bằng tiến sĩ Luật năm 1982. Từ năm 1992, bà đã bắt
đầu nghiên cứu và thực hành Phật giáo.
Bắt buộc phải về hưu sớm vì bệnh mãn tính năm 2004, bà cảm thấy tuyệt
vọng và tự dày vò mình vì có cảm tưỡng đã làm tan nát cuộc sống của
người bạn đời. Sau khoảng năm sáu năm đau khổ, bà quay lại với thiền
quán niệm và nhận ra phương pháp thiền quán niệm là phương thuốc hữu
hiệu để giảm đau đớn thể xác.
Chấp nhận chính mình - Ni sư Ayya Khema

Tâm định và thiền Quán Vipassana - Thiền Sư U Silananda

Chánh niệm - Henepola Gunaratana

Thiền
Quán còn gọi là Thiền Tuệ hay Thiền Minh Sát (tiếng Pali: Vipassana) đã
được Đức Phật chỉ dạy cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm, là phương
pháp thiền đặc biệt chú trọng vào việc giữ sự chánh niệm liên tục.
Chánh niệm, tiếng Anh là ‘Mindfulness’, tiếng Pali ‘Sati’.
Chánh niệm là một tiến trình vi tế mà bạn đang thực hiện ngay thời
điểm hiện tại. Khi bạn nhận thức (biết được) một vật gì lần đầu tiên,
khi ấy sẽ có một sự ý thức (biết) thuần tuý thoáng qua rất nhanh trước
lúc bạn có khái niệm về vật đó, trước lúc bạn nhận dạng ra nó. Chính
giai đoạn ý thức (biết) thuần tuý đang trôi chảy đó là Chánh niệm.
Kinh Giới Hạnh - Hòa thượng Thiền Sư Silananda giải
![]() |
Kinh Giới Hạnh
Silavanta Sutta
Hòa thượng Thiền Sư Silananda
Nita Truitner dịch Việt |
![]() |
|
Mục Lục
Lời Giới Thiệu Tiểu Sử Thiền Sư U Silananda Kinh Giới Hạnh 1. Giới Thiệu Về Ngũ Uẩn |
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








