Chánh niệm - Chương 1, 2, 3: Hiểu rõ tu thiền là gì (Thiền sư: Henepola Gunaratana)


Chương 1: Thiền định: Tại sao phải bận tâm?
Chương 2: Tu thiền không phải là
Chương 3: Tu thiền là gì? 
-o000o-
Chương 1: Thiền định: Tại sao phải bận tâm?
Tu thiền vốn không phải là việc dễ dàng. Nó mất rất nhiều thời gian và năng lượng. Nó cũng đòi hỏi tính chịu đựng, sự quyết tâm và tinh thần thi hành kỷ luật. Quá trình này cần phải có tính chủ động đối đầu với phẩm cách cá nhân (của tự thân). Những điều này lại chính là những sự việc mà chúng ta thường hay không ưa thích làm và lúc nào cũng muốn tránh càng xa càng tốt. Tình trạng này, theo người Mỹ, thì được gọi là “sự phán đoán.” hay “tính sáng tạo.” Thiền định thì cần phải có “tính sáng tạo.” Có như thế, nó sẽ có vị thế tích cực hơn khi so sánh tu thiền với việc ngồi dựa lưng để xem truyền hình cho qua thời gian. Vậy thì, tại sao lại phải bận tâm? Tại sao lại phải hao tốn bao thời gian và năng lực trong khi bạn có thể tự mình hưởng thụ? Sao lại bận tâm? Rất đơn giản. Bởi vì bạn là con người. Và chỉ vì bạn đơn giản là con người, và có thể nhận ra rằng mình đang phải hứng chịu những điều bất toại nguyện vốn có của cuộc đời mà không thể nào tránh khỏi. Bạn có thể làm ngơ hay đè nén nó ra khỏi sự nhận biết của mình trong một thời gian. Bạn có thể đánh lạc hướng bản thân trong vài giờ đồng hồ, nhưng rồi nó cũng trở lại với bạn — thông thường thì nó trở lại vào những lúc bạn không thể nào ngờ nhất. Một cách rất thình lình, ra vẻ như khơi khơi, bạn ngồi dậy, có sẵn đó, và nhận diện ra hoàn cảnh thật sự của mình trong đời sống. 
Đó là bạn, tự mình bất chợt nhận ra là, chính ta đã và đang hoang phí cả đời mình để chỉ có thể vượt qua cơn lốc xoáy cuộc đời một cách vất vả. Bạn gắng sức bằng mọi phương cách để giữ sao cho bên ngoài được ra vẻ như hoàn toàn không có vấn đề gì. Rồi trong tình trạng khẩn cấp, chính ngay lúc đó, bạn thấy ra mọi sự việc đã và đang luôn luôn bào mòn bên trong con người của bạn, nhưng bạn vẫn cố gắng giấu diếm cho riêng mình biết mà thôi. Thật ra, cuộc đời của bạn không gọn gàng chút nào cả, và bạn cũng tự biết như thế. Nhưng bạn đã che đậy điều đó một cách thật tài tình. Thật ra bạn cũng có biết là, ở bên dưới tất cả những vấn đề không ổn kia, phải có một phương thức khác để sống, một cách tốt đẹp hơn để nhìn vào cuộc đời, một đường lối để có thể cảm nhận cuộc đời một cách trọn vẹn hơn. Thỉnh thoảng bạn cũng có lúc làm được điều đó. Bạn có được một việc làm tốt, đang và được yêu đương, thắng một cuộc chơi. Rồi trong một lúc, sự thể trở nên khác đi. Cuộc sống thì rất là dồi dào và trong sáng, có thể làm phai mờ đi những buồn bã và tẻ nhạt trong một lúc. Cấu trúc kinh nghiệm của bạn thì không ngừng thay đổi và bạn tự nhũ là, “Được rồi! Bây giờ thì xong chuyện và mình sẽ có được hạnh phúc.” Nhưng cảm giác toại nguyện đó rồi cũng mờ phai tựa như khói bay theo gió. Những gì còn lại với bạn là sự tưởng nhớ mà thôi. Những thứ đó và sự nhận biết mơ hồ đã nói lên một điều gì đó không ổn vậy!
Nhưng thật sự là có một lãnh vực khác, sâu xa và nhạy cảm, vẫn luôn luôn tồn tại trong cuộc sống. Không hiểu vì lý do nào đó, bạn lại không thể thấy được nó. Cảm giác của bạn luôn bị giới hạn. Sự êm ái của cảm xúc giác quan luôn phân cách những hương vị ngọt ngào với cái kinh nghiệm bạn đang có. Cho nên, bạn không thể cảm giác được đời sống một cách thật sự. Bạn đánh mất nó hết lần này sang lần khác. Để rồi sau đó, ngay cả sự nhận biết mơ hồ còn lại kia cũng phai mờ mất, và bạn sẽ phải quay về với cái vỏ cũ rích ngày nào. Cuộc sống chừng như là nơi dành riêng cho những hành động xấu, cho nên đôi lúc làm cho chúng ta cảm thấy thật là chán ngán, ê chề. Nó thật là điên cuồng, và bạn đã bỏ ra không biết bao thời gian lặn ngụp ở tận cùng hố thẵm, lúc nào cũng không ngừng khao khát được leo lên chỗ cao hơn. 
Vậy thì, cái gì không đúng đang xảy ra đây? Bạn có phải là một người lập dị không? Không phải! Bạn chỉ là một con người mà thôi. Và bạn đang chịu đựng cùng một chứng bệnh của kiếp con người, bất cứ ai cũng phải cưu mang. Chứng bệnh ấy như là có con quái vật hiện hữu bên trong mỗi người, và nó có nhiều tay: thói quen căng thẳng mãn tính, thiếu lòng thương cảm chân thật đối với người khác — ngay cả những người thân cận với chúng ta, luôn cảm thấy bị bế tắc, và căn bệnh vô cảm. Nhiều, rất ư là nhiều cánh tay. Không một ai trong chúng ta hoàn toàn thoát khỏi sự kiềm chế của nó. Chúng ta có thể phủ nhận con quái vật này, hay luôn luôn cố gắng đàn áp, đè bẹp nó. Chúng ta sắp đặt ra cả một hệ thống giáo dục để tránh né nó, giả bộ như là nó không có ở đó, và đánh trống lãng với bản thân ta bằng cách đừng nghĩ tới nó; mà thay vào với những mục tiêu, kế hoạch và địa vị mà mình sẽ đến. Nhưng con quái vật kia không bao giờ tự bỏ đi. Nó là một dòng tiềm lưu không dứt ẩn hiện trong mỗi tư tưởng và nhận thức của chúng ta; một giọng nói không lời ở trong đầu luôn văng vẳng vang lên, “Chưa đủ tốt. Phải có thêm. Cần phải hơn thế. Phải có nhiều hơn thế nữa.” Nó là một con quái vật. Nó biểu hiện mọi nơi, qua mọi hình thức vi tế khác nhau.
Đến dự một buổi tiệc; nghe những giọng cười. Giọng giòn tan nói lên những điều vui vẽ bề ngoài nhưng vẫn không che dấu được nỗi lo sợ nằm bên dưới nét ưu tư trên mặt kia. Chúng ta có thể cảm ra được sự căng thẳng và những áp lực nặng nề. Không có ai thư giãn thật sự. Mọi người đều làm ra vẻ như không có gì. Họ đi xem ném banh, cổ võ những vận động viên từ các hàng ghế khán giả, chứng kiến những cơn bộc phát phẫn nộ một cách phi lý. Họ chứng kiến hoặc dự phần vào những cơn chán nản không thể kiềm chế, đang sôi sục bởi những kẻ đang giả vờ hăng hái dưới cái chiêu bài là đang phấn khởi, hay có tính đoàn thể cao. La ó, phản đối và buông lung tính ích kỷ trong danh nghĩa trung thành với tổ chức của mình. Khán giả say sưa, đấm đá lẫn nhau. Những người này đang cố gắng một cách tuyệt vọng để làm cho vơi bớt những căng thẳng bên trong tâm tư của chính mình. Họ là những người không có được sự bình yên trong tâm hồn. Họ xem tin tức trên màn ảnh cho qua thời gian, nghe những bài nhạc được nghe nhiều nhất, cho đúng phong trào. Bạn bao giờ cũng thấy những âm giai cũ rích được lập lại nhiều lần, qua nhiều cung bật khác nhau: Ganh tỵ, khổ sở, bất mãn, và căng thẳng.
Cuộc sống như là một trận chiến dai dẵng chừng như vô tận, những cố gắng to lớn để chống chọi lại những sự kiện không bình thường luôn làm cho chúng ta phân vân. Và giải pháp của chúng ta đối với những điều không vừa lòng này là gì? Chúng ta bị kẹt cứng trong căn bệnh bất trị, bệnh chứng “Nếu như”. “Nếu như” tôi có nhiều tiền thì tôi sẽ vui vẻ; “Nếu như” tôi tìm gặp người thật sự yêu tôi; “Nếu như” tôi có thể giảm đi 20 cân; “Nếu như” tôi có TV màu, bồn tắm sủi bọt nước nóng, mái tóc rợn sóng, và … Vậy chứ tất cả những ý tưởng vụn vặt này từ đâu phát sinh ra, và quan trọng hơn nữa là, chúng ta đối xử ra sao đối với chúng? Nó phát sinh ra từ quan niệm giới hạn đã bị điều kiện hóa trong tâm thức của chính chúng ta. Nó nằm sâu thăm thẵm, tiềm ẩn và thấm nhập vào trong thói quen, tập quán, và vấn đề cực kỳ hắc búa là, chúng ta đã không ngừng củng cố nó từng chút một trong quá khứ. Nếu muốn tháo gỡ nó ra, chúng ta phải dùng theo cùng một phương cách và chiều hướng, mở từng chút một ra. Điều chỉnh sự chú tâm của mình, nạo gở ra từng mảnh một và đưa nó ra ánh sáng. Chúng ta có thể tạo ra sự nhận biết vô ý thức, một cách từ từ, mỗi lần cho một tư tưởng.
Thực chất của kinh nghiệm thì luôn luôn biến đổi. Đã gọi là biến đổi thì có tính liên tục, không ngừng. Từng phút giây đời sống trôi qua và không có chặp thời gian nào giống với bất cứ chặp thời gian nào khác cả. Sự biến đổi liên tục cũng chính là thực chất của thế giới tri giác. Một tư tưởng nảy sinh ra trong đầu của bạn và chỉ trong nửa giây thời gian sau thì nó cũng đã hoại diệt đi. Rồi tư tưởng khác phát sinh và cũng hoại diệt đi… Một tiếng động đập vào tai của bạn rồi tắt đi. Bạn mở mắt ra và cả bầu không gian tràn vào, nháy mắt đóng lại, tất cả điều biến mất. Con người đi vào cuộc đời bạn và họ rời xa bạn. Bạn bè xa đi, người thân lìa trần. Sự may mắn cũng lúc lên, lúc xuống. Đôi khi bạn có được mà thường thì bị mất mát nhiều hơn. Dòng sống cuộc đời luôn luôn xảy ra: thay đổi.. Không có hai khoảng thời gian nào giống nhau cả, dù cho thật ngắn.
Không có gì là sai trái cho vấn đề này cả. Đó là bản chất vốn có của thế gian. Nhưng tập quán lại huân tập cho chúng ta những đáp ứng không thích hợp đối với sự vận hành không ngừng này. Chúng ta phân loại kinh nghiệm. Chúng ta cố gắng bám lấy và nhận nhét từng sự nhận thức, từng sự thay đổi tâm lý ở trong dòng tiến triển này; đưa nó vào một trong ba khuôn khổ tâm thức: Tốt, xấu, và trung tính. Sau đó, tùy theo nó được phân định vào thể loại nào, chúng ta có một thái độ hành xử tương ứng theo trạng thái tâm lý quen thuộc của mình. Nếu một nhận thức nào đó được cho là “tốt”, thì chúng ta cố gắng nắm giữ thời gian dừng lại. Chúng ta bám chặt vào tư tưởng đó, nâng niu nó, ôm giữ nó, cố gắng giữ nó lại càng lâu càng tốt, không cho nó thoát đi. Khi những hành động kia không mang lại kết quả, chúng ta đưa ra tất cả năng lực, mong sao tái tạo lại cái kinh nghiệm mà do cái cảm giác kia gây ra. Hãy gọi cái thói quen tâm lý ấy là “chấp thủ.”
Về khía cạnh trái ngược của tâm, cái mà đã được phân định là “xấu”. Khi cảm thấy một điều gì “xấu” là chúng ta cố gắng đẩy nó ra xa. Chúng ta phủ nhận nó, khước từ nó, tống khứ nó bằng bất cứ phương cách nào mà chúng ta có thể làm hay nghĩ ra. Con người thường hay đấm đá với cảm giác của chính mình. Chúng ta trốn tránh từng phần tử nhỏ của tự thân. Hãy gọi cái thói quen tâm lý ấy là “phản kháng.” Ở giữa của hai trạng thái “Chấp thủ” và “Phản kháng” là trạng thái vô ký. Nơi đây chúng ta có một loại kinh nghiệm trung tính — không tốt mà cũng không xấu. Đây là một trạng thái mà chúng ta cho là nhạt nhẽo, vô vị, không hứng thú, hay buồn tẻ. Những kinh nghiệm loại này được sắp đặt, để rồi chúng ta có thể lãng quên nó và quay sang những thứ náo động hơn mà chúng ta đặt tên là “vòng sanh diệt vô tận” của Tham muốn và Ghét bỏ. Thể loại kinh nghiệm này đã xâm chiếm gần như toàn diện sự suy nghĩ của chúng ta. Hãy gọi trạng thái tâm lý này là “lơ đãng”. Cái kết quả trực hệ cho tất cả hành động kém hiểu biết này là một lối mòn vô tận, đưa chúng ta vào tình trạng không lối thoát, không ngừng tìm cầu dục lạc, không ngừng trốn lánh khổ đau, liên tục lơ đãng hơn 90% đối với những kinh nghiệm của mình. Để rồi sau đó, chúng ta lấy làm ngạc nhiên tại sao cuộc sống quá tẻ nhạt. Nói cho cùng, cái hệ thống tư duy mà chúng ta đang xử dụng thật không mang lại kết quả tốt. 
Không cần biết bạn cố gắng vất vả ra sao, hầu mong tìm cầu những hạnh phúc và thành công, nhưng vẫn có lúc bạn sẽ phải bị thất bại. Không cần biết bạn thoát chạy nhanh nhẹn như thế nào, vẫn có lúc khổ đau bắt kịp được bạn như thường. Và trong khoảng thời gian chạy và đuổi kia, cuộc sống sao quá buồn tẻ đến đổi bạn có thể bị bức xúc đến muốn quát tháo ầm ỉ lên. Tâm trí của chúng ta đầy rẫy những quan niệm và phán đoán. Chúng ta đã dựng lên những bức tường vây quanh mình như là một ngục tù của đời sống bằng những yếu tố yêu và ghét của chính mình. Để rồi, chúng ta bị đau khổ. “Đau khổ” là một từ lớn trong tư tưởng Phật giáo. Nó là một thuật ngữ quan trọng cần nên được thấu hiểu rõ ràng. Trong Phạn ngữ, “Khổ đau” không phải chỉ có nghĩa là đau đớn nơi thân thể. Mà nó còn có nghĩa là sự bất toại nguyện từ trong sâu thẵm của tiềm thức, là một phần tạo ra Sinh Tử luân hồi. Đức Phật từng có nói, thực chất của đời sống là khổ đau. Thoạt đầu nghe qua có vẻ thụ động một cách quá mức và bi quan gần như là phi lý. Dù sao đi nữa, chúng ta cũng có những khoảng thời gian vui vẽ và hạnh phúc, phải không? Không! Không hoàn toàn đúng như thế. Nhưng trên bình diện thế gian thì có vẻ là như vậy. Hãy chọn bất cứ khoảng thời gian nào đó, khi bạn thật sự cảm thấy thỏa ý, để nghiệm xét xem một cách kỉ càng ra sao. Phía dưới của niềm vui kia, bạn sẽ thấy sự căng thẳng ngủ ngầm tỏa khắp, không cần biết phút giây đó kỳ diệu ra sao, nó cũng phải có lúc chấm dứt. Không cần biết bạn có được bao nhiêu, nó sẽ bị phân hóa đi một phần lớn, và rồi sẽ biến mất hoàn toàn vào cuối ngày, dù cho bạn có gìn giữ hay kế hoạch để có thêm nhiều hơn. Cuối cùng thì bạn cũng sẽ chết đi, và sẽ mất tất cả. Tất cả chỉ hiện hữu trong nhất thời mà thôi.
Nghe qua có vẻ buồn thảm quá phải không? May mắn thay! Tình trạng không nhất định là phải như thế! Có vẻ là buồn thảm khi bạn nhìn nó từ góc độ của tư tưởng khái niệm, ở tầng mức hoạt động của vòng lẩn quẩn thế gian. Tiềm ẩn phía dưới là một thế giới quan hoàn toàn khác biệt, một lối nhìn và tư duy khác đối với toàn thể. Đây là mức độ hoạt động mà khi ấy cái tâm không muốn giữ cho thời gian đứng lại, chúng ta không vướng mắc vào kinh nghiệm của mình trong khi nó đang vận hành, không cố gắng ngăn cản và xua đuổi bất cứ điều gì. Đó là mức độ kinh nghiệm siêu thoát cả hai đối cực, tốt và xấu, dễ chịu và đau đớn. Đây là một cách nhìn khoan dung để nhận biết thế gian, và là một kỹ năng để học hỏi. Tuy đó không phải là việc dễ dàng đạt được nhưng khả dĩ có thể tu tập được. 
Hạnh phúc và Bình an. Đây chính là những vấn đề cơ bản cho sự tồn tại nhân sinh. Đó cũng là tất cả những gì chúng ta đã và đang luôn đi tìm. Thông thường đây là điều khó nhận thấy, bởi vì chúng ta luôn muốn che dấu những ước muốn cơ bản này bằng những mục tiêu bên ngoài. Con người muốn thực phẩm, tiền tài, nhục dục, tư hữu, và được tôn trọng bởi người khác. Chúng ta thậm chí tự nhủ với mình rằng, quan niệm về ‘hạnh phúc’ thì quá trừu tượng: “Này nhé! Tôi thì rất thực tế. Chỉ cần tôi có đủ tiền bạc thì tôi sẽ mua được tất cả hạnh phúc tôi cần.” Thật là không may, cái quan điểm này không mang đến hiệu quả gì cả. Kiểm nghiệm lại xem những mục đích này và bạn sẽ thấy chúng thật là thiển cận. Bạn muốn thực phẩm à? Tại sao? Bởi vì tôi đang bị đói. Bạn đang đói thì sao? Nếu tôi ăn, tôi sẽ hết bị đói và tôi sẽ cảm thấy thoải mái. À ha! Cảm thấy thoải mái! Đây mới là điểm chính. Những gì chúng ta thật sự đi tìm, thì không phải là những mục tiêu ở bên ngoài mà là một cuối điểm khác. Những gì chúng ta thật sự đeo đuổi là cảm giác của sự thư thả, là động lực đưa ta tới cảm giác thỏa mãn. Thư thả, buông lỏng, chỉ là điểm tận cùng của sự căng thẳng. Còn an bình, hạnh phúc chính là trạng thái không còn có sự khát khao nữa.
Vậy thì hạnh phúc này là cái gì? Phần lớn trong chúng ta, hạnh phúc trọn vẹn có nghĩa là có được tất cả những gì mà ta mong muốn, có được quyền kiểm soát mọi thứ, có quyền hành như một vị vua, làm cho cả thế gian thay đổi theo cơn hứng khởi của mình. Một lần nữa, những điều này cũng không phải là giải pháp công hiệu. Nhìn lại lịch sử nhân loại, những nhân vật có được loại quyền lực tối thượng này, họ không phải là những người có hạnh phúc. Sinh hoạt sống cho ta thấy rằng họ không phải là người có sự bình an trong tự thân. Tại sao vậy? Bởi vì họ nghĩ là họ có quyền lực áp chế toàn thể thế giới một cách tuyệt đối, nhưng rõ ràng là không phải thế. Họ muốn mọi người phải phục tùng họ, nhưng trên thế gian bao giờ vẫn luôn luôn có những người không thích phục tùng kẻ khác. Họ cũng không thể điều khiển những tinh hà. Họ vẫn bị bệnh và vẫn phải chết.
Bạn không thể nào có được tất cả những gì mình muốn. Đó là điều không thể nào xảy ra. May mắn thay, còn có một sự chọn lựa khác. Bạn có thể học cách kiểm soát tâm của mình, để có thể tách rời cái vòng lẩn quẩn của Tham lam và Si mê. Có thể học cách không tham cầu những gì mình muốn, học cách nhận biết lòng tham lam và không để cho nó điều khiển bạn nữa. Điều này không có nghĩa là, bạn sẽ nằm trên lối đi để mời gọi mọi người chà đạp lên thân xác của mình. Nó có nghĩa là, bạn vẫn tiếp tục sống một đời sống bình thường, nhưng sống với một nhân sinh quan mới và khác hơn. Bạn vẫn làm những gì một con người cần phải làm, nhưng không còn bị ám ảnh, hay có xu hướng bị tác động bởi chính lòng tham lam của mình nữa. Bạn vẫn có thể muốn một điều gì đó, nhưng không cần phải đeo đuổi nó, vẫn có thể còn sợ thứ gì đó, nhưng không cần phải đứng đó mà chịu trận. Những thái độ tâm lý như thế này thì rất khó thực hiện. Nó cần rất nhiều thời gian huấn luyện để đạt đến. Nhưng muốn điều khiển tất cả thế gian thì “không thể nào”. Khó khăn thì khả dĩ có thể thực hiện nếu so sánh với “không thể nào”, phải không?
Xin vui lòng đợi một chút. Nói đến “Bình an” và “Hạnh phúc”, đó không phải là những gì mà nền văn minh nhân loại luôn hướng về hay sao? Chúng ta tạo dựng nên những kiến trúc đồ sộ như là cao ốc, xa lộ cao tốc, có những cuộc nghĩ hè, truyền hình nhiều màu, những phúc lợi như là y thuật trị liệu, ngày nghỉ bệnh, trợ cấp xã hội, trợ cấp lợi tức, v.v… Tất cả những thứ đó đều nhằm mục đích cung cấp một chừng mực nào đó về “Bình an” và “Hạnh phúc” cho con người. Nhưng mức độ về bệnh tinh thần vẫn tăng trưởng đều đặn và tệ nạn xã hội vẫn leo thang vượt bậc. Đường phố vẫn tràn ngập kẻ phạm tội và kẻ quá khích. Khi bạn ra khỏi nhà, chỉ trong một phút giây không cảnh giác, là có thể có kẻ nào đó giật đi chiếc đồng hồ đang đeo trên tay của bạn. Luôn luôn có điều gì đó không ổn đang chờ trực. Một người đang vui vẻ thì không thể nào có động cơ đi giết hại kẻ khác. Chúng ta thích nghĩ là, cái xã hội này đang tận dụng mọi tiềm năng của con người để đạt được hòa bình và hạnh phúc. Chúng ta chỉ mới bắt đầu nhận thức ra là, con người đã phải trả một cái giá quá lớn — bằng mảnh tâm linh và tình cảm của nhân loại — cho sự phát triển vượt bậc trên lãnh vực vật chất. Và chúng ta vẫn còn đang tiếp tục trả thêm vào cái giá cho sự sai lầm ấy. Tiêu biểu cho điều cần phải nói là tình trạng thoái hóa đạo đức và suy đồi tâm linh của xã hội Hoa kỳ ngày nay, và có nhiều vấn đề cần phải giải quyết trong phạm trù này. Nơi mà có thể bắt đầu tốt nhất là phần tâm linh của chúng ta. Nhìn vào bên trong một cách cẩn trọng, thành thật và khách quan, mỗi người trong chúng ta sẽ thấy có lúc “Tôi là một kẻ côn đồ” hay là “Tôi là một người điên rồ.” Chúng ta sẽ học để thấy những phút giây này, nhìn chúng một cách rõ ràng, trong sáng, mà không có sự kết tội, để rồi chúng ta sẽ trưởng thành hơn và sống tích cực hơn.
Bạn không thể nào tạo ra những đổi thay triệt để về lối sống rập khuôn của mình, cho đến khi nào, bạn bắt đầu thấy được bản thân của mình một cách tường tận như những gì bạn-đang-là. Cho đến bao giờ bạn làm được điều này, sự đổi thay sẽ xảy ra một cách rất tự nhiên. Bạn không cần phải tự cưỡng ép, hay đấm đá, hay tuân thủ theo những luật lệ của một đấng thẩm quyền nào đó đang điều khiển bạn. Sự đổi khác tự động xảy ra, thế thôi! Nó rất là tự nhiên. Nhưng đi đến trạng thái kinh nghiệm trực giác lần đầu tiên là một việc làm rất ư là gian nan. Bạn phải thấy ra là: “bạn là ai?” và “bạn ra sao?” mà không có một ảo tưởng, phê phán hay sức đề kháng nào cả. Bạn phải thấy được vị trí và chức năng thật sự của mình trong guồng máy xã hội trong phút giây hiện tại. Thấy ra được chức nghiệp và bổn phận của mình đối với mọi người chung quanh; và trên hơn cả, trách nhiệm đối với chính mình như là một cá nhân đang sinh tồn chung với những phần tử cá nhân khác. Cho nên, bạn phải thấy tất cả một cách rõ ràng và như là một khối, một cấu trúc đơn giản với đầy những mối tương quan bên trong. Nghe qua có vẻ rất phức tạp, nhưng nó thường xảy ra trong một khoảnh khắc thời gian. Thái độ tâm linh này — để nhận biết ra những điều trên — thì không có bị kình chống gì với thiền định, trong quá trình giúp cho bạn đạt được sự hiểu biết hay trạng thái tĩnh lặng.
Trong Kinh điển Phật giáo đã lưu truyền nhiều ngàn năm qua có ghi lại: “Chúng ta ngày nay ra sao là cái kết quả của những gì chúng ta đã làm trong quá khứ. Chúng ta sẽ là những gì trong ngày mai chính là kết quả của những gì chúng ta đang làm trong hôm nay. Cái hậu quả của cái tâm bất thiện sẽ theo bạn như cổ xe theo con bò đang kéo nó. Cái hậu quả của cái tâm thiện sẽ theo bạn như bóng theo hình. Không một ai có thể làm khác hơn cho bạn ngoài cái tâm thiện lành của chính mình — không phải cha mẹ, người thân, bạn bè, hay bất cứ một ai khác. Cái tâm được huấn luyện tốt sẽ mang lại hạnh phúc.” 
Thiền định dùng để thanh lọc tâm. Nó làm sạch cái quá trình tư duy của những gì được gọi là tâm lý khó chịu, những trạng thái như: Tham, Ghét và Ganh tỵ, những thứ làm cho cảm giác của con người bị bế tắc. Thiền định mang đến cho tâm một trạng thái tĩnh lặng và tỉnh giác, một trạng thái Thiền Định và Tuệ giác.
Trong xã hội ngày nay, con người tin tưởng sâu sắc vào nền giáo dục. Ai cũng tin rằng, giáo dục tạo ra những con người có trình độ văn hóa. Tuy thế, nền văn minh cũng đánh bóng con người một cách rất hời hợt. Xét lại có phải hay không, chính những người lãnh đạo có trình độ văn hóa cao đã tạo ra chiến tranh và sự suy sụp kinh tế qua các chiêu bài cao thượng, cải cách, thi hành pháp luật. Có sự khác biệt rất lớn trong lề lối tuân thủ luật lệ. Một mặt, bởi vì một người biết ra — qua kiến thức, hình tượng hóa — trước được sự bị trừng phạt, cho nên sợ cái hậu quả nếu không tuân theo lề luật. Còn mặt kia, là vì bởi người đó đã thanh lọc bản thân không để bị ô nhiễm do Tham lam; chính lòng tham đã tác động một cá nhân có hành động trộm cướp, ganh ghét, hay sát sinh. Ném một cục đá vào dòng nước, dòng nước chỉ gợn lên cơn sóng rồi sẽ phẳng lặng dần, nhưng bên trong viên đá kia thì không có gì thay đổi. Nếu ném viên đá ấy vào trong lò luyện kim, cả viên đá sẽ biến đổi từ trong ra ngoài. Nó bị tan chảy. Văn minh thay đổi con người ở bề mặt bên ngoài, còn thiền định làm mềm con người từ bên trong, xuyên suốt. 
Thiền định còn được gọi là vị thầy vĩ đại. Nó là một ngọn lửa chuyên dùng để tinh lọc những kim loại, tuy chậm nhưng có kết quả rất hữu hiệu. Sự hiểu biết càng thấu đáo bao nhiêu, thì bạn có chừng bấy nhiêu sự linh hoạt và sự chịu đựng. Sự hiểu biết càng sâu rộng bao nhiêu, thì lòng thương cảm nơi người tu thiền càng lan rộng bấy nhiêu. Bạn trở thành bậc cha mẹ hoàn hảo hơn, một người thầy lý tưởng hơn, sẵn sàng tha thứ và khoan dung đối với người khác. Bạn cảm thấy thương yêu và cảm thông người khác nhiều hơn. Bởi vì bạn đã hiểu được chính mình, cho nên cũng hiểu được người khác. Khi đã nhìn thật sâu vào bên trong và đã thấy được lòng tự kỷ ám thị, cũng như những nhược điểm của chính mình, bạn sẽ thấy ra lòng nhân đạo vốn có, để rồi học làm sao thành thật tha thứ và thương yêu. Khi đã học được lòng thương cảm đối với chính bản thân, thì lòng thương cảm đối với người khác tự nhiên phát sinh. Một thiền giả hoàn hảo thì đã đạt đến sự hiểu biết thâm sâu về cuộc đời và người ấy sống trong thế gian với lòng từ bi bao la, vô biên.
Thiền định cũng giống như canh tác trên một mảnh đất mới. Muốn biến một mảnh rừng hoang thành một thửa đất trồng trọt, thì trước hết bạn phải san bằng hết cây và bứng hết các gốc. Rồi sau đó mới xới đất, bón phân, rãi mầm và chăm sóc cả mùa màng. Để vun trồng tâm, trước tiên bạn phải dọn dẹp hết tất cả những sự bực dọc, cáu kỉnh trên con đường tu tập của mình, nhổ bậc tất cả gốc rễ để chúng không còn đâm chồi ra nữa. Bón phân có nghĩa là bạn cho vào năng lượng và kỷ luật vô mảnh đất tâm. Kế đến bạn rãi mầm và chăm sóc mùa màng bằng niềm tin, giới hạnh, chánh niệm, và trí tuệ.
Xin đặc biệt lưu ý, niềm tin và giới hạnh ở đây có ý nghĩa khác biệt trong hoàn cảnh này. Đạo Phật không tán thành niềm tin theo nghĩa bóng, là tin vào một đấng thần linh nào đó đã được ghi lại trong kinh sách, hay được gán cho bởi các nhà tiên tri, hoặc được truyền đạt đến bạn qua một thẩm quyền nào đó. Ở đây, nó chỉ có nghĩa là tự tin vào khả năng vốn có của chính mình. Nhận xét ra điều gì đó là có thật; bởi vì bạn đã thấy nó khi nhận xét nhiều khía cạnh trong tâm mình. Cùng lý luận đó, giới hạnh không phải là lề lối tuân thủ lễ nghi bên ngoài, hay những áp đặt trong phong cách xử thế. Mục đích của thiền định là sự biến chuyển cá nhân. Cái “tôi” đi vào kinh nghiệm tĩnh lặng ở đầu này thì không giống cái “tôi” đi ra ở đầu kia. Các tính chất của bạn đã bị thay đổi qua quá trình cảm ứng bén nhạy hơn, bởi vì bạn đã phát triển, nâng cao tầm mức cảnh giác về tư tưởng, lời nói, và hành động của mình. Sự ngạo mạn của bạn sẽ bị bốc hơi và lòng thù nghịch cũng bị đốt cháy. Tâm trở nên lắng đọng và yên tĩnh hơn, và đời sống của bạn sẽ được bình thản hơn trước kia. Do đó, tu tập thiền định đúng đắn sẽ trang bị tốt hơn cho thiền giả, khi đối mặt với những thăng trầm của đời sống. Nó giúp giảm bớt căng thẳng, sợ hãi, và lo âu. Nổi bất an giảm xuống, niềm thống khổ cũng vơi nhẹ đi. Mọi thứ bắt đầu đi vào quỹ đạo và cuộc đời của bạn lướt đi thay vì phải vật vả. Tất cả những điều này xảy ra không ngoài sự hiểu biết đúng đắn theo chánh pháp.
Tu thiền sẽ phát triển mạnh khả năng tập trung và suy nghĩ. Sau đó, từng phần một, sự vận hành và kết cấu của tiềm thức trở nên ngày càng rõ ràng hơn đối với bạn. Trực giác sẽ lớn mạnh lên dần. Chất lượng tư duy tăng lên và dần dần bạn có được trí tuệ trực giác về những pháp tạo nên do điều kiện, nhận biết chúng như-nó-là, mà không có sự phán đoán và phân biệt. Cho nên chỉ lý do này cũng đủ để bận tâm phải không? Đúng thế. Đây chỉ là những hứa hẹn trên lý thuyết mà thôi. Vì vậy, chỉ có một cách duy nhất để chứng minh thiền định có giá trị xứng đáng cho sự phấn đấu là: Học phương pháp đúng để rồi thực hành. Tự mình nhận định lấy. 


Chương 2: Tu thiền không phải là
Thiền định chỉ là một từ ngữ. Bạn đã từng nghe qua từ ngữ này, nếu chưa thì bạn đã không nhặt lấy quyển sách này để đọc làm gì. Quá trình hoạt động của tư duy có tính cách liên kết, và không biết được đã có bao nhiêu hệ tư tưởng, trường phái triết học, và tôn giáo đã sử dụng đến từ ngữ “thiền định” này. Một số trong những quan niệm này thì có phần nào đúng và phần còn lại thì không dính dáng chút nào đến “thiền định” cả. Một vài phương pháp của các tôn giáo khác thì không có liên hệ hay đồng dạng gì đến tu tập “thiền quán”. Trước khi đi xa hơn, chúng ta cần phải làm sáng tỏ một vài vấn đề trong phạm vi này, để cho những người còn mới đối với tu thiền có thể hiểu mà không bị trở ngại hay bị lầm lẫn. Hãy bắt đầu với những vấn đề rõ ràng nhất.
Chúng tôi sẽ không dạy bạn xem xét trong bụng mình có những gì hay là tụng những mật ngữ khó hiểu nào cả. Bạn cũng không phải chế ngự những loài yêu quái hay khai thác những năng lượng vô hình nào cả. Không có những đảnh màu sẽ trao tặng để biểu dương cho thành tích của bạn, và thiền sinh không cần phải cạo nhẵn đầu mình hay đội những chiếc khăn kiểu Hồi giáo. Bạn cũng không cần phải cho đi tất cả những gì mình đang sở hữu và dọn vào cư trú trong tu viện. Sự thật, ngoại trừ khi cuộc đời của bạn thật là vô đạo đức và là một đống hỗn loạn, thì bạn có thể bắt đầu ngay bây giờ và có được một chút tiến bộ ngay. Nghe qua có vẻ thuyết phục lắm phải không?
Có rất nhiều sách được viết về đề tài Thiền định. Phần lớn những cuốn sách này, đã được viết theo quan điểm của một tôn giáo hay trường phái triết học nào đó; và nhiều tác giả không bận lòng nói rõ ràng lập trường quan điểm của họ trong khi viết. Họ trình bày về thiền định giống như là những quy luật chung, nhưng trên thật sự, người viết đang muốn đưa ra một đường lối tu tập dành riêng cho hệ thống tôn giáo của mình. Kết quả là mọi thứ trở nên xáo trộn. Tệ hại hơn thế nữa, toàn bộ hệ tư tưởng phức tạp và sự diễn dịch đang tồn tại, không còn ăn khớp với nhau. Giờ thì tất cả trở nên một mớ hỗn độn to lớn do những ý tưởng mâu thuẫn, cộng thêm vào đó rất nhiều tài liệu rãi rác khắp nơi. Quyển sách này thì có tính đặc thù riêng. Chúng ta đang áp dụng duy nhất pháp môn Thiền quán hay Minh Sát Tuệ. Chúng tôi sẽ dẫn giải tới bạn cách xem xét sự vận hành tâm của mình trong những trạng thái khác nhau, lúc nó yên tĩnh, lúc nó buông xả, để bạn có thể nhận biết xuyên suốt vào đường lối vận hành của cái thực chất hiện thật bên trong. 
Có một số quan niệm sai lầm chung về thiền định. Những sai lầm này xuất hiện ra lần này sang lần khác đối với những thiền sinh mới, những câu hỏi giống nhau tiếp tục khởi lên. Tốt nhất là chúng ta đối diện với những vấn đề này lập tức, bởi vì chúng là những thành kiến che lấp sự tiến bộ ngay từ lúc ban đầu. Chúng ta giải quyết từng thành kiến một để phá vỡ chúng. 
Quan niệm sai lầm #1: 
Thiền định chỉ là một phương pháp thư giãn

Vấn đề ở đây là từ ngữ “chỉ là.” Sự thư giãn là một bộ phận của thiền định. Nhưng Thiền quán nhắm vào mục tiêu cao cả hơn. Dù cho là như thế, mệnh đề ở trên lại rất chính xác cho pháp tu thiền của những tôn giáo khác hơn. Tất cả những phương pháp thiền đặt nặng về tập trung tâm trí, đem tâm áp đặt vào một đề mục hay một lãnh vực tư tưởng. Khi thực hiện được việc này một cách vững chãi và thuần thục, hành giả sẽ đạt đến một trạng thái nới lỏng thâm sâu và yên tĩnh được gọi là Thiền Na. Đó là một trạng thái vô cùng tĩnh lặng trong đó có mức hạnh phúc cao độ. Trạng thái hạnh phúc này ở một cấp độ cao, vượt xa hẳn những kinh nghiệm sung sướng trong tầm hoạt động của Ý thức. Phần lớn các phương pháp tu tập này dừng lại ở đây. Đó là mục tiêu tối hậu của pháp tu này. Và khi đã đạt được, thì bạn sẽ tiếp tục tái thiết lập cái kinh nghiệm này nhiều lần cho đến cuối cuộc đời. Thiền quán thì không phải là như thế. Nó có mục tiêu khác hơn — Sự tỉnh giác. Sự tập trung và thư giãn là những yếu tố cần thiết để phát huy sự tỉnh giác. Chúng là những hiện tượng báo trước, một phương tiện tốt, một loại sản phẩm phụ có ích lợi. Nhưng chúng không phải là mục đích cứu cánh. Mục tiêu tối hậu của thiền quán là “kinh nghiệm tự chứng”. Thiền quán là một pháp tu uyên thâm không ngoài mục đích thanh lọc và chuyển biến cuộc đời của người hành thiền. Chúng ta sẽ đi sâu vào chi tiết về sự khác biệt giữa khả năng tập trung và “trí tuệ tự chứng” trong Chương 14.
Quan niệm sai lầm #2: 
Thiền định có nghĩa là đi vào trạng thái hôn mê

Một lần nữa, mệnh đề này chỉ đúng cho vài hệ thống tu tập khác, chứ không đúng cho Thiền quán. “Trí tuệ trực quán” thì không tạo nên một dạng thôi miên nào cả. Không phải là bạn đang cố gắng làm cho tâm của mình trống rỗng để rơi vào trạng thái vô thức, hay là cố gắng biến mình thành một loài thực vật vô tri. Nếu theo ý nghĩa này, thì trái ngược lại sẽ đúng cho Thiền quán. Thiền sinh sẽ trở nên thích nghi hơn với những thay đổi cảm xúc của mình. Bạn sẽ học biết bản thân ở tầng mức chính xác và rõ ràng hơn. Trong quá trình tu tập pháp môn này, vài cảnh giới có thể xảy ra gần như hôn trầm cho thiền sinh, nhưng thật ra thì không phải thế; trong những lúc buồn ngủ, đề mục thường dễ bị lạc mất và tâm đi lang thang. Còn trong khi có được sự tập trung cao độ, thiền giả rất ư là tỉnh táo. Bề ngoài trông qua, hai tình huống thì giống nhau, nhưng bên trong thì hoàn toàn khác hẳn, và những hiện tượng này cũng không phải là điểm quan yếu của Thiền quán. Như chúng tôi đã nhắc qua, trạng thái tập trung cao độ của Thiền Na chỉ là dụng cụ hay là những nấc thang trên con đường tu tập đi đến Tuệ giác. Thiền quán được định nghĩa là vun trồng Chánh niệm hay Tỉnh giác. Nếu bạn thấy ra rằng, mình đang bị lạc vào vô thức trong lúc công phu, thì bạn không phải là đang hành thiền. Đó là dựa theo định nghĩa của từ ngữ được dùng trong thiền quán. Đơn giản thế thôi.
Quan niệm sai lầm #3: 
Thiền định là một pháp tu huyền bí không thể nào hiểu được

Điều này chỉ gần đúng mà thôi. Thiền định dùng để đối diện với Ý thức nằm sâu trong Tư tưởng. Do đó, ngôn ngữ không thể nào diễn đạt hết được những gì trong phạm vi này. Tuy nói thế, nó không có nghĩa là chúng ta vĩnh viễn không thể nào hiểu thấu. Có nhiều cách để hiểu biết vấn đề một cách thâm sâu hơn là ngôn ngữ. Chúng ta hiểu cách đi, đứng. Bạn có lẽ không thể nào diễn tả tuần tự chính xác những cảm giác và những cơ bắp co rút trong tiến trình bước đi. Nhưng bạn vẫn có thể làm được tốt. Thiền định cần phải được thông hiểu theo cùng lề lối này, bằng cách thực dụng nó. Nó không phải là những gì mà bạn có thể học được theo khóa học trừu tượng. Nó phải được học qua kinh nghiệm. Thiền định không phải là những công thức vô tư duy, có thể cho ra những kết quả theo dự đoán một cách tự động khi cho vào những ẩn số. Bạn không thể nào đoán ra được những gì sẽ xảy ra trong một buổi tọa thiền nào cả. Mỗi buổi tọa thiền là một khoảng thời gian phiêu lưu để khảo cứu, kinh nghiệm. Thật ra, điều này là sự thật, khi bạn đạt được khả năng phán xét và tương quan trong sự tu tập của mình, từ đó bạn có thể dùng nó như là một kim chỉ nam. Điều này chỉ ra rằng, bạn thường hay bị lạc hướng trong khi tu tập sẽ tạo nên những giai đoạn trì trệ. Hãy học nhìn vào mỗi giây phút như là: nó chỉ là một giây phút duy nhất tồn tại trong vũ trụ này, đây chính là điều tối quan yếu trong Thiền quán.
Quan niệm sai lầm #4: 
Thiền định để thành người có công năng đặc dị

Không phải thế! Mục đích của thiền định là phát triển Tỉnh giác. Học cách đọc tâm mình không phải là điều tối hậu. Mục tiêu rốt ráo không phải là khả năng bay bổng, đằng vân, mà là “sự giải thoát.” Có mối liên quan giữa hiện tượng tâm linh và thiền định, nhưng sự tương quan này rất ư là phức tạp. Trong giai đoạn đầu của tu thiền, những hiện tượng này có thể phát sinh. Vài thiền giả có thể có được một số kinh nghiệm trực giác hay hiểu biết về ký ức tiền kiếp mà những người khác thì không có thể. Trong trường hợp này, chúng ta không thể xem đó là một tiến bộ tâm linh hay là công năng cảm ứng. Không nên tặng cho những hiện tượng này cái tầm nhìn quan trọng quá mức. Những hiện tượng như thế, thật ra thì có hại đối với những hành giả sơ cơ, bởi vì chúng rất ư là quyến rũ. Đây là những cạm bẫy có thể lôi cuốn hành giả đi lệch hướng. Sự khuyến cáo tốt nhất cho thiền sinh là đừng chấp chặt nhiều vào những hiện tượng này. Nếu chúng khởi sinh, thì ghi nhận từng hiện tượng một, chỉ thế thôi. Còn bằng không thì cũng không sao cả. Thường thì chúng sẽ không xảy ra. Ở vào giai đoạn nào đó trong quá trình tu tập, hành giả có thể thực hành vài đề tài đặc biệt để có năng lực tâm linh. Nhưng điều này chỉ xảy ra ở giai đoạn sau này. Sau khi thiền giả đạt được những lãnh vực sâu sắc của Thiền Na, người ấy mới có thể có khả năng để xử dụng năng lực này mà không bị nó điều khiển và huỷ diệt cuộc đời của mình. Hành giả sẽ phát triển năng lực này chỉ vỏn vẹn dùng để phục vụ người khác mà thôi. Giai đoạn này chỉ xảy ra sau rất nhiều năm tu tập, đừng nên quá lo lắng về nó. Chỉ nên tận lực tập trung phát triển khả năng tỉnh giác mà thôi. Nếu có những giọng nói và hình ảnh phát sinh, chỉ cần ghi nhận chúng rồi để cho chúng tự phân hủy, đừng bận lòng chấp chặt hay theo đuổi chúng.
Quan niệm sai lầm #5: 
Thiền định thì nguy hiểm, người thận trọng nên tránh xa

Bất cứ việc gì cũng có nguy hiểm tiềm ẩn trong đó. Băng ngang qua một con đường, bạn có thể bị một xe buýt đụng phải. Khi đang tắm bạn vẫn có thể bị trẹo cổ. Khi tu thiền, bạn có thể nạo vét đi nhiều ý tưởng xấu xa trong quá khứ. Những biến cố đã bị đè nén, vùi lấp trong tận cùng sâu thẵm của tâm thức trong thời gian thật dài, có thể trở nên rất đáng sợ, hoặc cũng có thể có nhiều lợi ích. Không có một sinh hoạt nào hoàn toàn không có mầm móng hiểm họa. Nhưng điều đó không có nghĩa là, chúng ta nên gói cuộn thân mình trong một cái tổ an toàn nào đó. Đó không phải là đời sống mà là trạng thái chờ chết. Phương thức tốt nhất để đối diện với hiểm họa, là biết được một chừng mức nào đó về nó: bao nhiêu, ở đâu, và xử thế ra sao khi nó phát sinh. Đó cũng là một trong những mục đích của quyển sách này. Thiền quán là công trình xây dựng Tỉnh giác. Thực chất của quá trình thì không có gì là nguy hiểm, mà còn có thể nói còn trái ngược lại nữa. Tăng trưởng Tỉnh giác là biện pháp phòng vệ đối với hiểm họa. Nếu hoàn tất đúng đắn, thì tu thiền là một quá trình rất nhẹ nhàng và chậm rãi. Thực hành thật chậm, từ từ, và phát triển sự tu tập của mình bằng cách để cho nó xảy ra một cách tự nhiên. Không có gì là nên gượng ép cả. Sau này, khi có được sự chỉ dẫn và khảo sát của một vị thầy tốt, bạn có thể đi nhanh hơn để trải qua những khóa thiền thâm sâu. Ở giai đoạn đầu, chỉ nên thong thả. Thực hành một cách bình thản và mọi sự việc sẽ đâu vào đó.
Quan niệm sai lầm #6: 
Thiền định chỉ dành cho tu sĩ, không phải cho người thế gian

Bạn sẽ thấy lối suy nghĩ này rất phổ biến ở Á châu, nơi mà những tu sĩ và những người hành đạo rất được mọi người trong xã hội tôn kính. Tình trạng này có tính tương đồng với thái độ của người phương Tây dành cho những tài tử điện ảnh và các nhà chơi thể thao nổi tiếng. Những hạng người như thế đã được tạo dựng lên theo những khuôn mẩu, đã được thổi phồng lên xa hơn so với giá trị đời sống của chính bản thân họ, và đã được áp đặt với mọi thứ đặc tính mà không có mấy người có thể thực sự có được. Ngay cả trong thế giới Tây phương, chúng ta cũng có lối suy nghĩ như thế đối với thiền định. Chúng ta luôn kỳ vọng người hành thiền phải là những hình tượng đặc biệt tôn kính đến mức độ, khi để miếng bơ vào miệng thì miếng bơ kia cũng không dám tan ra. Chỉ cần gần những vị này thôi là tất cả mọi ảo tưởng sẽ được xua tan đi.
Những thiền giả luôn luôn phải chứng thực nguồn năng lượng to lớn và cảm hứng cao độ; họ sống bằng cuộc đời với lời nói đầy sức mạnh. Dĩ nhiên, điều này thì có thể đúng cho nhiều thiền sư, nhưng họ không phải tu thiền vì bởi họ là tu sĩ. Mà là trái ngược lại, họ là tu sĩ vì bởi họ tu thiền. Thiền định là quá trình đưa họ đến đó (làm tu sĩ.) Và họ bắt đầu tu tập trước khi họ trở nên thánh thiện. Đây là một điểm quan trọng. Một số lớn thiền sinh chừng như nhận ra rằng, một người phải trở nên hoàn toàn đạo đức rồi mới có thể bắt đầu tu thiền. Sự hoạch định này không mang đến kết quả cho sự tu tập được. Nền tảng đạo đức đòi hỏi một mức độ tự chế tâm lý. Đó là một điều kiện tiên quyết. Khi bạn không có sự tự chế nào cả, thì bạn không thể thực hiện bất kỳ lời răn nào, và nếu tâm của bạn luôn bị hổn loạn quay cuồng như trục quay của máy xoay sinh tố, thì sự tự chế làm sao hiện hữu. Cho nên, thái độ tâm lý bắt buộc phải có trước. 
Có ba bộ phận cấu thành phương pháp tu thiền Phật giáo — Giới, Định, và Tuệ. Ba bộ phận này phát triển cùng nhau trong quá trình tu tập của thiền sinh. Mỗi phần ảnh hưởng hai phần kia, cho nên thiền sinh phải vun trồng cả ba cùng một lúc, chớ không phải từng phần. Khi có được Trí tuệ để hiểu một cách chân thật những hoàn cảnh, thì bạn sẽ có lòng thương cảm hướng đến mọi loài một cách tự phát. Lòng thương cảm có nghĩa là, thiền sinh tự động thu thúc mình không để cho phát sinh ý tưởng, hành động và lời nói, vì có thể thương tổn đến bản thân hay người khác. Từ đó, phong cách cư xử của thiền sinh tự nhiên có tính đạo đức cao. Chỉ khi nào không thể hiểu thấu sự việc, thì bạn mới tạo ra vấn đề. Nếu bạn không thể thấy ra cái hậu quả được cấu tạo ra từ hành động của mình, thì bạn sẽ dễ bị lầm lẫn. Những ai muốn đợi mãi cho đến lúc hoàn toàn thánh thiện thì mới tu thiền, thì việc ấy sẽ không bao giờ xảy đến. Giống như câu nói của một nhà thông thái cổ là: người này đang đợi cho mặt nước đại dương phẵng lặng để cho hắn tắm. Để hiểu sự liên hệ này rõ ràng hơn, hãy hình dung một hệ thống đo lường nguyên tắc đạo đức. Mức thấp nhất là tuân thủ những nguyên tắc và luật lệ đã được đặt ra bởi một số người. Có thể là do những nhà tiên tri mà bạn ưa thích. Hoặc là nhà lãnh đạo, người linh hướng hay là cha mẹ của bạn. Không cần biết ai là người lập ra những qui tắc, ở giai đoạn này, bạn chỉ cần biết chúng và thi hành theo. Một người máy có thể làm được điều này. Thậm chí một con tinh tinh Phi châu cũng có thể làm được nếu những qui tắc kia đủ đơn giản và nó sẽ bị đánh một roi mỗi khi nó phạm qui. Ở tầng mức này không cần phải tu thiền gì cả. Chỉ cần một bảng qui tắc và một người cầm cây roi.
Tầng mức nguyên tắc đạo đức kế tiếp bao gồm: tuân thủ những qui tắc nhưng không có một người cầm cây roi canh chừng. Bạn tuân theo bởi vì đã bị những luật lệ này thấm nhập vào tâm. Bạn sẽ tự khiển trách mình mỗi lần vi phạm. Cấp bậc này thì đòi hỏi một ít tâm tự chủ. Nếu mô hình tư duy của bạn lộn xộn thì phương cách cư xử cũng sẽ lộn xộn theo. Trình độ văn hóa tâm lý sẽ làm giảm bớt tráo trộn tâm lý.
Mức độ thứ ba của nguyên tắc đạo đức thì nên gọi là “nền tảng Đạo đức.” Ở mức độ này là tất cả số lượng cần có trong toàn bộ đo lường nguyên tắc mà chúng ta đang nói, đây là một hệ thống biến từ thật sự để đo lường. Ở tầng mức cao nhất (Đạo đức), cá nhân đó không phải tuân theo những qui tắc do một thẩm quyền nào đặt ra cả. Người ấy chọn lấy phong cách hành xử cho chính mình, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh cần thiết. Cấp bực đạo đức này đòi hỏi sự thông tuệ thật sự và khả năng phán xét về tất cả mọi mặt của vấn đề, để có thể có một giải pháp xử thế năng động, thích nghi cho từng hoàn cảnh. Hơn nữa, mỗi cá nhân tự quyết định lấy những gì cần thiết để thoát khỏi những tư kiến giới hạn của mình. Người ấy phải nhìn thấy toàn bộ hoàn cảnh, từ quan điểm khách quan, nhận xét vô tư đối với nhu cầu cá nhân và người chung quanh. Nói cách khác, người ấy không bị ràng buộc bởi tham lam, hờn ghét, ghen tỵ, và tất cả những ích kỷ mà thường hay che khuất cái tầm nhìn của mình so với quan điểm của người khác. Chỉ khi đó, người đó mới chọn ra những hành động rõ ràng và phù hợp nhất cho hoàn cảnh lúc ấy. Mức độ đạo đức này nhất định đòi hỏi công phu tu thiền, ngoại trừ bạn bẩm sinh ra là một thánh nhân. Không có một phương cách nào khác để có được kỷ năng này. Hơn thế nữa, quá trình huấn luyện như thế này rất ư là gian nan. Nếu bạn cố gắng xào nấu những khía cạnh của vấn đề trong tâm thức, thì bạn chỉ làm cho bản thân mình kiệt quệ mà thôi. Trí thông minh không thể nào giữ cho nhiều trái banh trên không trung cùng một lúc. Nó sẽ bị quá tải. May mắn là tầng sâu của Ý thức có thể thực hiện quá trình này dễ dàng. Tu thiền có thể hoàn thành giai đoạn này cho bạn. Nó là một cảm giác kỳ  bí.
Một ngày kia, bạn gặp phải vấn đề — thí dụ như đối diện với vụ ly dị của chú Herman. Rõ là không có một giải pháp nào tốt và mớ lộn xộn to lớn của những “rút mắc” tạo cho bạn những cảm giác bồn chồn. Ngày hôm sau, trong khi bạn rữa chén, đồng thời đang nghĩ về một vấn đề khác, nhưng bất chợt một giải pháp tốt phát sinh. Nó nhảy ra từ trong tiềm thức và bạn nói “À há!”, và một vấn đề đã được giải quyết thông suốt. Loại trực giác này chỉ có thể xảy ra khi bạn vượt thoát vòng lẫn quẫn của lý luận ra khỏi vấn đề, và để cho tiềm thức một cơ hội để trù tính một giải pháp. Tâm nhận biết chỉ đứng chắn trên lối đi làm sự kiện trở nên trì trệ và khó khăn hơn. Tu thiền dạy bạn cách nào thoát khỏi vòng vận hành của tư tưởng. Nó là một nghệ thuật tâm linh dùng để giải quyết vấn đề, cũng là một kỷ năng hữu ích trong đời sống hàng ngày. Tu thiền không nhất thiết là phải dành riêng cho những người tu khổ hạnh và các ẩn sĩ. Nó là một kỷ năng thực dụng có thể dùng trong những sự kiện mỗi ngày và áp dụng tức thời trong đời sống của mọi người. Thiền định không phải là của thế giới khác. 
Thật không may, sự thật này cấu thành vấn đề cho vài loại thiền sinh. Họ tu tập để kỳ vọng nhận thức ra lập tức cái thế giới phạm thiên. Những gì họ thường có được là phương cách quét sạch phiền não và giải quyết khó khăn trong cuộc sống. Họ thất vọng một cách không cần thiết. Những cù cặn thì phải đến trước. Tiếng nói của thiên thần thì phải mất rất nhiều thời gian.
Quan niệm sai lầm #7: 
Thiền định là trốn tránh sự thật

Không đúng! Tu thiền là thể nhập vào sự thật. Nó không cách ly bạn ra khỏi khổ đau của đời sống, mà là giúp bạn nghiên cứu sâu vào cuộc đời, cũng như mọi khía cạnh khác, để bạn có thể xuyên thủng bức tường khổ đau, vượt thoát niềm thống khổ. Thiền quán là pháp tu được thực hiện theo lối quyết định rõ ràng để đối diện với sự thật, kinh nghiệm đời sống như-nó-là, và đương đầu với những gì bạn tìm thấy ra. Nó giúp bạn tống khứ đi những ảo tưởng và vượt thoát tất cả sự tự lừa dối phù phiếm đối với chính mình trong mọi thời. Những gì ở đó thì ở đó. Bạn chính là bạn trong lúc hiện tại. Sự tự dối lừa bản thân về những khuyết điểm, tự khích lệ và bào chữa, chỉ càng tạo thêm bó buộc mình vào vòng ảo tưởng mà thôi. Thiền quán thì không có ý định làm quên đi bản thân hay che dấu những khó khăn của thiền sinh. Nó chỉ dạy cho bạn thế nào để nhìn tự thân như-nó-là của mình. Nhìn ra những gì hiện hữu và chấp nhận chúng một cách toàn diện. Chỉ khi ấy bạn mới có thể thay đổi được chúng. 
Quan niệm sai lầm #8: 
Thiền định là phương thức tốt để đi lên

A! Đúng mà cũng không đúng. Tu thiền đôi khi có thể thâm nhập vào trạng thái hạnh phúc tuyệt vời. Nhưng đó không phải là mục đích rốt ráo và không luôn luôn xảy ra. Hơn nữa, nếu bạn tu thiền với mục đích ấy trong đầu, thì cơ hội cho những trạng thái này xảy ra lại càng thấp hơn, nếu so với khi bạn tu thiền với mục tiêu đúng đắn, nghĩa là phát triển Tỉnh giác. Trạng thái hạnh phúc là cái quả của sự thư giãn; còn sự thư giản là cái quả của sự buông bỏ căng thẳng. Tìm hạnh phúc từ tu thiền là đưa sự căng thẳng vào quá trình, sẽ làm cho tất cả mọi điều kiện liên quan đến nó cùng bị ảnh hưởng theo. Đó là một vấn đề tiến thoái lưỡng nan. Bạn có thể có hạnh phúc chỉ khi nào bạn không theo đuổi nó. So sánh với trạng thái lâng lâng và cảm thấy tuyệt vời là những trạng thái mà bạn muốn theo đuổi, thì có nhiều cách dễ dàng hơn để có được. Chúng được cung cấp ở các lữ quán hay những góc nhá nhem tối cuối con đường, khắp nơi trong phố. Trạng thái lâng lâng thì không phải là mục đích của tu thiền. Nó là sản phẩm phụ có thể xảy ra, một loại hiệu ứng phụ mê li và trở nên kéo dài hơn khi bạn tu thiền lâu dài. Bạn sẽ không nghe bất kỳ sự phủ nhận nào về vấn đề này từ những thiền giả tu tập lâu năm.
Quan niệm sai lầm #9: 
Thiền định là ích kỹ

Nhìn bề ngoài thì có vẻ là như thế. Hành giả ngồi bất động trên chiếc tọa cụ trong góc phòng kia như một tượng gỗ. Người ấy đâu có đi hiến tặng máu? Không có! Người ấy đang bận rộn để giúp đỡ những nạn nhân bị thiên tai? Cũng không! Nhưng hãy xem xét về động lực của người đó. Tại sao người ấy làm như thế? Ý định của người ấy là thanh lọc cái tâm sân hận, thành kiến, và tàn ác của chính mình. Người ấy tham gia một cách tích cực trong quá trình loại bỏ tham lam, căng thẳng và lãnh đạm. Những trạng thái tâm lý này đã và đang làm trở ngại lòng thương cảm của bản thân hành giả đối với người khác. Ngoại trừ khi nào những trạng thái này mất đi, bằng không, tất cả những điều tốt gì hành giả đã, đang và sẽ làm, chỉ là hình thức để vun bồi cho cái bản Ngã của mình mà thôi. Vì tư kỷ, với danh nghĩa “giúp đỡ” là một danh phù phổ biến nhất từ xưa cho đến nay. Người có quyền lực tối cao chính là người lớn tiếng nhất về những hành vi cao thượng. Những phiên tòa Hồi giáo đều được điều khiển để mang lại phúc lợi cho đa số quần chúng. Khám xét đời sống cá nhân của những thiền giả chân chính, thì bạn sẽ thấy ra rằng, họ thường tham dự vào những hoạt động từ thiện. Bạn sẽ ít thấy được họ hành động như những người tham gia chiến dịch truyền giáo, sẵn sàng hy sinh bất kỳ cá nhân nào cho mục đích sùng tín tôn giáo. Thật ra, chính chúng ta mới đích thật là những kẻ ích kỷ hơn là chúng ta đang nghĩ. Cái “Ta” có cách biến đổi những hành động cao thượng trở thành bẩn thỉu nếu chúng ta tạo cơ hội cho nó. Xuyên qua quá trình tu tập thiền, chúng ta trở nên có chú tâm hơn về bản thân mình, đúng như là con người thật của chính mình, bằng cách nhận diện ra mọi khía cạnh tiềm ẩn mà chúng ta biểu lộ tính ích kỷ của mình ra ngoài. Để rồi, chúng ta thật sự bắt đầu trở nên vô ngã một cách thành thật. Thanh lọc sự ích kỷ của bản thân thì không phải là hành động ích kỷ.
Quan niệm sai lầm #10: 
Khi bạn tu thiền, bạn ngồi đó để suy nghĩ những tư tưởng cao thượng

Không đúng! Có một vài hệ thống nghiệm xét để làm công việc này, nhưng không phải là thiền quán. Thiền quán là tu tập Tỉnh giác. Tỉnh giác về những gì ở đây, dù cho nó là sự thật cao thượng hay là những cặn bả tồi tệ nhất. Bất cứ những gì đang ở đây trong hiện tại. Dĩ nhiên, những tư tưởng tốt đẹp, cao thượng có thể phát sinh trong khoảng thời gian đang tu tập. Chắc chắn là không thể tránh và không cần phải tìm kiếm chúng. Chúng chỉ là những cảm giác thiện phụ thuộc. Thiền quán là sự tu tập đơn giản; nó bao gồm những kinh nghiệm trực giác về điều kiện của đời sống mình, mà không có sự thiên vị hay những cảnh giới áp đặt lên chúng. Tu Thiền quán là bạn đang nhìn cuộc đời mình trôi qua trong từng phút giây mà không phê phán. Những gì xuất hiện thì sẽ phơi bày như-nó-là. Nó rất ư là đơn giản.
Quan niệm sai lầm #11: 
Chỉ vài tuần lễ tu thiền thì tất cả vấn đề của tôi sẽ biến mất

Thật là đáng tiếc, thiền tập thì không phải là loại thần dược trị bá bệnh. Bạn sẽ thấy thay đổi ngay, nhưng thật sự cái hiệu quả thì phải mất rất nhiều năm mới có thể thấy ra. Đó là lối vận hành của vũ trụ. Không có gì quí giá mà có thể đạt được sau một đêm. Tu thiền thì càng khó hơn trên vài phương diện. Nó đòi hỏi một quá trình kỷ luật dài hạn và đôi khi rất ư là gian khổ. Trong mỗi buổi tọa thiền bạn sẽ có được một chút, nhưng những thành quả này thường là rất vi tế. Chúng xảy ra ở tầng mức sâu thẵm trong tâm, và sẽ biểu lộ ra ở sau này. Nếu bạn tọa thiền bền bỉ để tìm kiếm những thay đổi cấp tốc, thì bạn sẽ bỏ qua cơ hội để thấy những biến đổi nhỏ này. Bạn sẽ chán nản, bỏ cuộc và kết luận là những thay đổi này sẽ không bao giờ xảy ra. Kiên nhẫn là chìa khóa. Kiên nhẫn. Nếu bạn không học được gì từ tu thiền, thì bạn sẽ học được lòng kiên nhẫn. Và đó là một bài học quí giá nhất luôn luôn hiện hữu. 

Chương 3: Tu thiền là gì?
Thiền tập là một từ ngữ, mà từ ngữ thì được dùng bởi nhiều người và bằng nhiều cách khác nhau. Điều này dường như là một điểm rất thông thường, nhưng thật ra thì không phải vậy. Rất ư là quan trọng để xác định người nói đang muốn nói về điều gì. Mỗi phong tục đều có phương pháp tu tập tâm linh mà người bản xứ đều dùng từ ngữ “thiền định” để gọi. Đó là tuỳ thuộc vào sự hời hợt của cái định nghĩa mà con người gán cho cái từ ngữ đó. Mọi người trên thế gian đều làm việc đó, từ Phi châu cho đến người Bắc cực. Phương pháp thì khác biệt rất to lớn, và chúng tôi không có ý định mổ xẻ vấn đề này vì có nhiều quyển sách đã làm việc đó. Ở đây, chúng tôi chỉ giới hạn sự thảo luận của chúng ta trong phạm trù của những người Tây phương về từ ngữ này.
Theo truyền thống Cơ đốc giáo, chúng tôi thấy hai cách tu tập trùng lặp lên nhau được gọi là “Lời yêu cầu khẩn thiết” và “Sự trầm ngâm.” “Lời yêu cầu khẩn thiết” là hướng thẳng đến một vài vị thần thánh nào đó. “Sự trầm ngâm” là kéo dài ý nghĩ về điều gì đó cho nó dài ra trong một khoãng thời gian, thường thì là một quan niệm hay một đoạn kinh nào đó. Từ quan điểm tâm linh của từng tập quán, cả hai hành động trên đều là sự huấn luyện cho khả năng tập trung tâm ý. Những tư tưởng có ý thức thông thường khi lan tràn thì sẽ bị câu thúc, hạn chế, và được đưa vào một vùng hoạt động có kiểm soát. Kết quả của cáp pháp này là: sự bình tĩnh sâu lặng, sự chuyển hóa sinh lý thật chậm, và trạng thái bình an, thoải mái. 
Thiền Yoga phát sinh từ truyền thống Ấn độ giáo, chỉ chuyên nhất cho tính tập trung. Sự huấn luyện cơ bản theo truyền thống này bao gồm tập trung tâm vào một đối tượng: một viên đá, ngọn lửa của một cây nến, một âm giai hay bất cứ gì, và giữ không cho tâm đi lung tung. Có được kỷ năng căn bản, hành giả Yogi sẽ phát triển sự huấn luyện tới nhiều đối tượng phức tạp hơn: tụng kinh, hình tượng tôn giáo có nhiều màu sắc, những nguồn năng lượng trong thân thể vv… Mặc dù vậy, không cần biết đối tượng có phức tạp ra sao, phương pháp vẫn đơn thuần là huấn luyện tập trung.
Trong truyền thống Phật giáo, sự tập trung cũng có giá trị rất cao. Nhưng cộng thêm vào đó, còn quan trọng hơn nữa là “sự Tỉnh giác.” Tất cả pháp môn tu thiền trong Phật giáo đều hướng về phát triển Tỉnh giác, chỉ dùng sự tập trung tâm ý như là một phương tiện. Truyền thống Phật giáo thì rất rộng rãi, bằng bất cứ cách nào, chỉ có vài cách thuận tiện để đi tới mục đích. Thiền tông có hai hướng đi khác nhau. Cách thứ nhất là “lao thẳng vào sự chú tâm bằng tất cả mọi năng lực (khán thoại đầu).” Bạn ngồi xuống đó, quăng bỏ tất cả ra khỏi tâm, chỉ đơn thuần ngồi đó với sự chú tâm. Nghe qua thì rất đơn giản, nhưng thật không đơn giản chút nào cả. Một cuộc trắc nghiệm ngắn ngũi sẽ chứng minh sự khó khăn ra sao. Cách thứ hai, thì được dùng theo phái Lâm tế là, “lừa dối tâm ra ngoài tư tưởng ý thức để đi vào sự tỉnh giác đơn thuần.” Để làm được điều này, thiền sinh sẽ được cho một Công án để giải, nó sẽ đưa thiền sinh vào một tình trạng huấn luyện rất ư là khủng khiếp. Bởi vì, thiền sinh không thể nào thoát ra khỏi cơn thống khổ của điều kiện, người ấy phải vượt thoát vào trong kinh nghiệm đơn thuần của phút giây hiện tại. Không có nơi nào khác để đi. Thiền tông thì rất là khó khăn. Nó thì rất hiệu nghiệm cho một số người, nhưng nó rất ư là khó.
Một phương pháp khác trong Phật giáo thì gần như trái ngược, đó là Mật tông. Tư tưởng ý thức, ít nhất cũng là phương cách chúng ta thường hay làm, là sự biểu lộ của cái Ngã, cái “Ta” mà bạn thường nghĩ bạn là. Tư tưởng ý thức thì liên đới chặt chẽ với quan niệm Bản ngã. Quan niệm bản ngã hay Ngã thì không gì hơn là một chuỗi phản ứng và hình tượng tâm linh đã được trùm lên dòng vận hành của sự chú tâm thuần khiết. Mật tông tìm kiếm để đạt được sự chú tâm thuần khiết bằng cách hủy hoại đi cái hình tượng “Ta” này. Đây là sự huấn luyện qua quá trình hình dung. Thiền sinh nhận được một hình tượng tôn giáo nào đó để chú tâm vào, ví dụ như, một trong những vị thần trong đền thờ Mật tông. Thiền sinh sẽ thâm nhập cho đến khi nào mình trở thành vị thần ấy. Thiền giả lấy ra cái định danh riêng của mình và thay thế cái khác vào. Bạn có thể tưởng tượng ra là cần bao lâu thời gian để làm trọn vẹn việc này, nhưng nó lại có kết quả. Trong suốt quá trình, thiền giả có thể xem xét cái đường lối mà cái Ngã được tạo nên và tồn tại. Thiền giả rồi sẽ nhận ra bản chất tùy tiện của các Ngã, ngay cả “cái Ngã” của chính mình, để rồi thiền giả không còn chấp chặt vào cái Ngã đó nữa. Thiền giả sẽ rơi vào trạng thái mà người đó có thể chọn cái Ngã của chính mình, hay cái Ngã của bất cứ ai mà mình muốn, hay là không chọn cái Ngã nào cả. Kết quả là: Sự chú tâm thuần khiết. Mật tông thì không phải là một đường lối tu tập dễ dàng gì.
Thiền quán là phương pháp tu tập xưa cũ nhất trong Phật giáo. Phương pháp này được ghi lại trong Kinh Đại niệm Xứ đã được dạy bởi chính đức Phật. Thiền quán là trực tiếp và vun trồng từ từ Chánh niệm hay Tỉnh giác. Nó phát triển từng bước một theo thời gian. Sự quan tâm của thiền sinh là trực diện với sự xem xét cao độ về mọi mặt trong đời sống của mình một cách cẩn thận. Thiền sinh tập sự nhận ra càng nhiều hơn dòng kinh nghiệm về cuộc đời mình. Thiền quán là một phương phát rất tinh vi, và cũng rất ư là thâm sâu. Nó tuy là một hệ thống rất xưa cũ và có qui chế trong lối tu tập sự bén nhạy, là một bộ môn tập tành cho thiền giả trở nên nhạy bén hơn đối với những kinh nghiệm cuộc đời. Có chú tâm lắng nghe, thấy toàn diện, và cẩn thận tra vấn. Chúng ta học cách ngữi chính xác, chạm hoàn toàn, thật sự để ý tới những gì chúng ta đang cảm giác. Chúng ta học nghe tư tưởng của mình mà không dính mắc vào chúng.
Đối tượng tu tập thiền quán là học cách chú ý. Chúng ta hay nghĩ rằng đó là những gì chúng ta đang luôn luôn làm, nhưng đó chỉ là ảo tưởng. Nó đến từ sự thật là, chúng ta chỉ chú ý rất ít đối với mọi kinh nghiệm đời sống của mình đang xảy ra, giống gần như chúng ta đang ngủ. Chúng ta chỉ đơn giản không chú ý đủ để nhận ra rằng chính mình không có chú tâm. Đó là một tình trạng tiến thoái lưỡng nan khác.
Xuyên qua quá trình tu tập Chánh niệm, chúng ta dần dần trở nên nhận biết ra về những gì mình thật-sự-là ở phía dưới cái hình tượng “Ngã” của mình. Rồi chúng ta tỉnh mộng ra, thật sự cuộc đời là ra sao. Nó không chỉ là một cuộc diễn hành đi lên đi xuống, một que kẹo đập mạnh vào cổ tay. Đó chỉ là một ảo tưởng. Cuộc sống có sự cấu tạo rất sâu xa, thâm thúy hơn nhiều nếu chúng ta chịu bận tâm nhìn và nhìn một cách đúng đắn.
Thiền quán là một dạng thể huấn luyện cho tâm, nó dạy bạn biết thế nào để kinh nghiệm thế gian theo một chiều hướng mới. Bạn sẽ học lần đầu trong đời mình về những gì thật sự xảy ra cho thân-tâm của mình, đối với chung quanh và bên trong. Nó là một tiến trình của sự khám phá tự thân, một phương pháp mang tính cách điều tra mà thiền sinh phải quan sát những kinh nghiệm riêng của mình, trong khi tham dự và cùng chúng diễn tiến. Sự tu tập phải luôn được thực hiện với thái độ tích cực.
“Hãy quên đi những gì tôi đã dạy. Quên hết những học thuyết, sự phán xét, và khuông mẩu. Tôi muốn hiểu bản chất thật sự của đời sống. Tôi muốn biết những gì mà cái kinh nghiệm của sự sống thật sự ra sao. Tôi muốn hiểu rõ sự thật và những chất lượng sâu sắc của đời sống, mà tôi không muốn chỉ chấp nhận sự giải thích của người khác. Tôi muốn tự mình thấy nó.” Nếu bạn theo đuổi sự tu tập của mình với thái độ này, bạn sẽ thành công. Tự bạn sẽ thấy mình quan sát sự vật một cách khách quan, đúng như-nó-là — vận hành và thay đổi trong mỗi sát na thời gian. Cuộc sống rồi sẽ trở nên phong phú không thể ngờ và không thể nào diễn tả hết được. Nó chỉ có thể kinh nghiệm mà thôi. 
Theo ngôn ngữ Pali thì Thiền Tuệ Vipassana Bhavana. Bhavana bắt nguồn từ chữ gốc “Bhu”, có nghĩa là lớn lên hay trở thành. Do đó, Bhavana có nghĩa là vun trồng, và từ ngữ này luôn luôn dùng để chỉ cái Tâm. Bhavana có nghĩa là “vun trồng tâm.” 'Vipassana' thì được chuyển hóa từ hai chữ gốc. 'Passana' nghĩa là thấy hay nhận thấy. 'Vi' là tiếp đầu ngữ với nghĩa bao hàm ý chính. Nghĩa căn bản là “theo một cách thật đặc biệt”, nhưng cũng bao hàm của cả hai ý “đi vào” và “xuyên qua”. Toàn nghĩa của chữ là “nhìn vào một việc gì với sự trong sáng và chính xác”, thấy mỗi một bộ phận theo từng phần, phân biệt, và xuyên thủng qua tất cả, để nhận thấy những sự thật cơ bản nhất của vật ấy. Quá trình này dẫn đến sự thấu hiểu sâu sắc cái bản chất thật của bất cứ sự vật gì đang được xem xét. Rốt cuộc, ‘Vipassana Bhavana’ có nghĩa là sự vung trồng tâm, với mục đích thấy theo một cách đặc biệt để đưa đến sự thấu hiểu và nhận thức một cách đầy đủ. 
Trong thiền Minh Sát, chúng ta vun trồng phương pháp nhìn mới về cuộc đời. Chúng ta tự huấn luyện mình lối nhìn sự vật một cách chính xác như-nó-là, và trạng thái nhìn đặc biệt này theo thiền ngữ được gọi là “Chánh niệm.” Tiến trình Chánh niệm này rất khác biệt với những lề lối mà con người thế gian thường hay làm hàng ngày. Thông thường ta không nhìn vào những gì thật sự đang diễn ra trước mặt, mà nhìn cuộc đời qua lăng kính của tư tưởng và khái niệm. Do đó, chúng ta luôn lầm lẫn những “tâm ảnh” này rồi cho nó là sự thật. Từ đó, chúng ta bị trói buộc bởi dòng tư duy vô tận trong khi sự thật thì cứ lững lờ đi qua mà không nhận biết ra. Chúng ta hoang phí phần lớn thời gian vào những công việc bận rộn, bấn loạn đeo đuổi theo dục lạc, thỏa mãn, và sự trốn lánh đau đớn, khó chịu. Tất cả bao nhiêu năng lượng đã bị tiêu hao để mong làm cho chúng ta cảm giác tốt hơn, để che dấu sự sợ hãi của mình. Chúng ta không ngừng tìm cầu sự an toàn. Trong thời gian đó, cả một trời kinh nghiệm thật sự luôn xảy ra mà ta không hề hay biết tí nào cả. Tu tập thiền Minh Sát là ta học biết làm ngơ đối với những cảm hứng bất chợt nổi lên mong muốn thoải mái, mà là lao thẳng vào sự thật. Điều mỉa mai là, sự an bình thật sự chỉ xuất hiện khi nào bạn không còn đeo đuổi theo nó nữa. Đây cũng là một điều tiến thoái lưỡng nan khác nữa. 
Khi không bị căng thẳng, lòng ham muốn rất dễ tác động để phát sinh sự đòi hỏi. Còn khi buông xả đi những dính mắc khát vọng thì nét đẹp chân chính của cuộc đời lại xuất hiện. Khi bạn tìm biết sự thật mà không còn vướng mắc vào ảo tưởng, ôm trọn tất cả niềm đau và hiểm họa của nó (sự thật), thì đó chính là lúc sự giải thoát chân chính hiện hữu với bạn. Đây không phải là một chủ thuyết mà chúng tôi muốn nhồi sọ bạn. Đây là một sự thật có thể quan sát, một sự kiện mà bạn có thể và nên tự mình kiểm chứng.
Hơn 2,500 năm tồn tại, hệ thống tư tưởng Phật giáo có đủ nhân duyên và thời gian để phát triển nhiều từng lớp trên phương diện chủ thuyết và nghi thức tôn giáo. Tuy thế, quan điểm cơ bản của Phật giáo vẫn khuyến khích về lãnh vực thực nghiệm và phản đối lại chủ thuyết độc đoán. Đức phật Thích Ca là người không chủ xướng truyền thống nào cả và không chấp nhận chủ nghĩa lập khuôn. Ngài không đề ra pháp tu như là một hệ thống giáo điều; mà là đề cương ra một phương pháp để cho mỗi cá nhân có thể tự mình thẩm xét. Cũng như lời của ngài đã nói, mời bạn đến để “thấy”. Một điều mà ngài có nói với các môn đệ rằng “đừng đặt thêm chiếc đầu khác trên đầu của mình.” Ở đây, ngài muốn nhắc nhở mọi người là, đừng bao giờ chấp nhận tin lời của bất cứ một ai. Hãy tự mình thấy.
Chúng tôi muốn bạn hãy trang bị cho mình cái tác phong trên khi đọc từng chữ trong quyển sách này. Chúng tôi không hứa hẹn rằng bạn sẽ chấp nhận tất cả những gì trong đây, vì nghĩ rằng chúng tôi là những kẻ có thẩm quyền trong lĩnh vực này. Tin mù quáng không có dính dáng gì ở đây cả. Đây chỉ là những kinh nghiệm thực tại. Học để điều chỉnh quan niệm của mình cho phù hợp với cái tinh thần đã được dẫn giải trong đây, rồi bạn sẽ tự mình thấy ra. Duy nhất điều đó mới tạo cho bạn những căn bản gầy dựng niềm tin chân chính. Trí tuệ trực quán là quá trình tu tập quán sát cho sự khám phá cá nhân một cách rất thuần khiết.
Đã từng có nói qua, chúng tôi sẽ trình bày một bản tóm tắt những điểm quan yếu trong triết học Phật giáo. Chúng tôi không có ý đi sâu vào chi tiết vì có nhiều sách khác đã làm việc này. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn diễn giải về sự hiểu biết đúng đắn về Thiền quán mà thôi.
Từ quan điểm Phật giáo, con người sống theo một lề lối rất là lạ lùng. Chúng ta cho những thứ không bền là những gì thường hằng, dù cho tất cả mọi hiện tượng và sự vật luôn luôn thay đổi chung quanh ta. Tiến trình thay đổi thì liên tục và bất tận. Đang khi đọc những dòng chữ này, thân thể của bạn thì đang già đi, nhưng bạn nào có quan tâm gì về vấn đề này. Cuốn sách trên tay của bạn đang bị phân hóa, mực chữ thì mờ phai dần và giấy thì trở nên giòn hơn. Những bức tường chung quanh chúng ta cũng đang cũ đi; những phân tử bên trong nó đang rung chuyển ở tốc độ to lớn và từng bộ phận đang xê dịch, rã rời và tan ra một cách từ từ, thế mà bạn cũng đâu có để ý đến điều này. Rồi một ngày kia, bạn bất chợt nhìn lại chung quanh mình. Bạn nhận thấy ra da thịt của mình nhăn nhíu, xương cốt kêu rin rít và cảm thấy đau đớn. Cuốn sách ngã màu và các trang dính vào nhau. Vách tường thì bị mòn khuyết vào. Rồi bạn buồn bã vì đánh mất tuổi thanh xuân, và khóc than khi những tư hữu bị mất đi. Những khổ đau này từ đâu đến? Nó bắt nguồn từ sự lơ là của chính mình. Bạn đã không để ý gì đến cuộc đời mình; không quan sát sự thay đổi không ngừng của thế giới hiện tượng khi nó đi qua. Bạn chỉ chọn lọc một số kiến trúc tâm linh, “Ta”, “cuốn sách”, “căn nhà” và rồi giả định rằng chúng sẽ tồn tại mãi mãi. Chúng sẽ không bao giờ thế. Còn bạn thì khác, bạn có thể hòa nhập vào dòng thay đổi liên tục kia. Bạn có thể học cách nhận thức cuộc đời mình như là một chuỗi thay đổi không ngừng, giống như lối hòa hợp của tiếng nhạc giao hưởng và điệu vũ. Bạn học được niềm vui trong sự hoại diệt của những hiện tượng, và hòa sống với dòng đời, hơn là liên tục kình chống với tự nhiên. Bạn có thể học, vấn đề là ở thời gian và phương pháp mà thôi.
Thói quen tri giác của loài người thì ngu xuẩn một cách rõ rệt trên một số phương diện. Chúng ta bỏ đi 99% những kích thích của cảm xúc giác quan mà ta thật sự có được, mà chỉ bắt nắm 1% kia như là đối tượng tâm linh mà thôi. Để rồi chúng ta phản ứng với những đối tượng này theo thói quen đã được huân tập của mình. Ví dụ: Bạn ở đó; đang ngồi một mình trong sự vắng lặng của một đêm thật êm ả. Có một con chó nào đó sủa vang vọng từ xa. Nếu mà chúng ta chịu quan sát thì sẽ thấy rằng, tự thân của sự nhận thức thì thật không thể nào diễn tả được vẻ đẹp của tình huống này. Nhưng từ vô thức một đợt sóng gợn lên và phá tan đi sự tĩnh lặng. Bạn bất chợt nghe cái giai điệu quen thuộc từ muôn thưở và biến dần thành một chất liệu kích thích vào hệ thần kinh như một dòng điện mạnh. Cả một tiến trình thì thật đẹp và hoàn hảo, nhưng con người thì lại có chiều hướng lờ hẳn đi. Thay vì, chúng ta ghi nhận cái nhận thức ấy như là một đối tượng tâm, ta lại làm khác đi, chúng ta áp đặt một bức tranh lên trên nó và tạo ra một chuỗi cảm xúc và phản ứng vào nó. “Lại con chó đó nữa, luôn luôn sủa vào giờ này, thật là phiền, đêm nào cũng vậy. Cần phải có ai đó làm một điều gì. Hay là mình nên gọi cảnh sát? Không! Nên gọi sở bắt chó. Có lẽ mình nên viết một lá thư cảnh cáo người chủ của con chó kia. Không! Nhiều rắc rối lắm. Ta nên có nút bít tai vậy.” Tất cả những thứ này chỉ là thói quen tâm lý và cảm xúc mà chúng ta đã huân tập từ thưở còn bé bằng cách bắt chước những người chung quanh. Những phản ứng theo khái niệm này vốn không có hiện hữu trong hệ thần kinh, nhưng khốn nỗi đó không phải là một cách duy nhất mà chúng ta dùng tâm trí của mình. Những gì đã được huân tập có thể quên đi hay thay đổi, mà việc đầu tiên là nhận thức ra những gì chúng ta đang làm trong khi mình đang làm nó, để rồi lùi lại một bước đứng yên lặng để quan sát nó. 
Từ góc độ nhìn của Phật giáo, con người có lối nhìn trái ngược về cuộc đời. Chúng ta nhìn vào những sự kiện tạo ra khổ đau mà lại cho nó là hạnh phúc. Nguyên nhân của khổ đau là những bệnh chứng của Tham lam và Sân hận mà chúng ta đã nhắc ở phần trước. Xuất phát từ khái niệm, bất cứ vấn đề gì cũng có thể xảy ra — một người con gái đẹp, một gã đẹp trai, chiếc du thuyền cao tốc, một tên côn đồ với khẩu súng, xe tải chạy bừa lên bạn… Bất cứ là điều gì, chúng ta luôn phản ứng với sự kích thích về cảm giác đó.
Chúng ta lo lắng quá nhiều. Thực chất của sự lo lắng là vấn đề. Lo lắng là một tiến trình có nhiều giai đoạn. Bồn chồn thì không chỉ là một trạng thái mà là một trình tự. Những gì bạn nên làm, là quan sát sự diễn tiến từ lúc phát sinh, chính ở giai đoạn sinh khởi này trước khi nó phát triển đến mức cao độ. Mối liên hệ trước tiên của chuỗi lo lắng là hành động của sự chấp thủ/phản kháng. Khi có sự kiện phát sinh trong tâm, chúng ta có khuynh hướng bám níu vào hay đẩy nó ra. Điều đó tạo nên sự tác động của lo âu. May mắn là có thiền Minh Sát giúp cho bạn làm bộ phận máy móc này mất đi tác dụng.
Thiền Minh Sát dạy cho chúng ta cách khảo sát tiến trình khái niệm của chính mình với sự chính xác rõ ràng. Chúng ta học cách nhìn sự phát sinh của tư tưởng và khái niệm cảm giác buông bỏ chân thành; học nhìn những phản ứng của mình phát khởi bằng sự trong sáng và trầm tĩnh. Chúng ta bắt đầu thấy mình phản ứng mà không bị lôi cuốn vào sự phản ứng đó, để rồi tư tưởng tự thị ám kỷ dần dần bị diệt đi. Chúng ta vẫn có thể lập gia đình, vẫn có thể tránh lối xe chạy, nhưng chúng ta không cần phải trải qua những nỗi đớn đau do tự mình gây ra.
Vượt thoát sự ám ảnh của tư tưởng tạo nên một quan kiến hoàn toàn mới mẻ về sự thật. Đây là một sự chuyển hướng to lớn, thay đổi toàn diện về cơ cấu khái niệm. Nó mang theo cảm giác bình an và lẽ phải, nét hứng khởi của đời sống và hương vị hoàn thiện của từng sinh hoạt. Cũng chính vì thế, lối nhìn sự vật của đạo Phật theo quan điểm này được gọi là Chánh kiến, nhìn sự vật như-nó-là. 
Thiền Minh Sát là một quá trình huấn luyện để mở ra dần dần cho chúng ta một lối nhìn vào sự thật như-nó-là. Bên cạnh cách nhìn mới về sự thật này còn có điều quan yếu nhất là sự thật về cái “Ta”. Sự quan sát cặn kẻ sẽ làm sáng tỏ về cái “Ta” thì cũng tương tự như cách chúng ta quan sát những ý niệm khác. Những cơn xoáy tư tưởng, cảm giác và cảm xúc mà chúng ta luôn đối diện, củng cố, và bồi đắp cho chúng trở thành một khối trong tâm, để rồi dán cho nó một giả danh là “Ta”. Rồi từ đó, chúng ta xem nó như là một cá thể bất biến và thật có; đặt nó biệt lập hẳn với mọi thứ khác. Chúng ta tách mình ra khỏi dòng vận hành liên tục của vũ trụ vạn hữu, để rồi buồn rầu là tại sao mình cảm thấy cô đơn quá. Chúng ta đã thờ ơ đối với mối tương quan vốn có với nhân loại và cho rằng “Tôi” phải có thêm hơn cho “mình”; rồi sau đó chúng ta lấy làm kinh ngạc là tại sao loài người quá ư là vô tình và tham lam… Mỗi một hành động bất thiện hay tàn nhẫn trên thế gian đều phát sinh từ cái “Ta” không thật có này, đã làm cô lập một cá nhân ra khỏi thế giới ngoài kia.
Khi cái ảo tưởng của khái niệm bị bùng vỡ, thì toàn bộ nhân sinh quan của bạn sẽ lập tức thay đổi. Đừng bao giờ kỳ vọng rằng tiến trình này sẽ xảy ra sau một đêm. Bạn đã dùng gần cả một đời mình để tạo dựng cái khái niệm này, và củng cố nó trong từng tư tưởng, lời nói, hành động trong bao năm qua, thì nó không thể nào tan biến trong giây phút. Nhưng nó sẽ ra đi nếu bạn cho nó đủ thời gian và sự chú ý. Thiền Minh Sát là một quá trình làm cho nó bị phân hóa. Từng chút một, bạn sẽ làm cho nó bị bào mòn đi bằng cách quan sát nó. 
Khái niệm tự ngã cũng là một quá trình mà chúng ta đang luôn làm. Trong thiền Minh Sát, chúng ta học cách thấy ra là mình đang làm thế trong lúc chúng ta đang làm, và làm nó như thế nào; để rồi thấy nó biến dạng và tan dần như một đám mây trôi ngang qua bầu trời trong xanh. Chúng ta sẽ ở vào trạng thái, mà ta tùy thuộc vào hoàn cảnh thích nghi nhất để quyết định có làm hay không làm một điều gì đó, mà không còn có tính bị ép buộc trong lúc đó. Chúng ta luôn có sự lựa chọn.
Dĩ nhiên đây là những đặc thù của Trí tuệ tự chứng. Mỗi một nét là một lãnh vực hiểu biết thâm sâu của từng vấn đề cơ bản của đời sống, và nó không bao giờ xảy ra nhanh chóng nếu không có công phu sâu dày. Đây là một tiến trình rất ư là gian nan, khó khăn nhưng kết quả cũng rất là tương xứng, một chuyển biến toàn diện đời sống của bạn cho đến cuối cuộc đời. Hành giả sẽ khổ công đi suốt quá trình tu tập để đạt đến lãnh vực tâm linh toàn thiện, sống với một tình yêu thương không điều kiện mà không còn đau khổ. Đây vốn là một mục tiêu vĩ đại trong đời người. Nhưng chúng ta không phải đợi chờ thành quả ở cuối con đường; những lợi ích này lập tức sản sinh và được tích lũy theo thời gian. Càng tu tập, bạn càng học được nhiều hơn về bản chất của đời mình; khả năng quán sát một cách bình thản những cơn cảm xúc, tư tưởng, cảm giác đang lúc phát sinh trong tâm. Thành quả của sự giải thoát tùy thuộc vào mức độ tu tập của bạn; và bạn có thể dừng lại bất cứ lúc nào nếu bạn cảm thấy đủ. Không có một hệ thống đo lường nào ngoài mức độ khát khao thấy được chân lý cuộc đời mà bạn có, chỉ có trí tuệ này mới có thể giúp ích cho mình và người chung quanh.
Thiền Minh Sát vốn dựa vào kinh nghiệm chứ không thuộc về phạm vi lý thuyết. Khi tu thiền, bạn trở nên bén nhạy hơn đối với kinh nghiệm đời sống và điều kiện chung quanh. Bạn không phải ngồi loanh quanh để kiến tạo nên những tư tưởng hoàn mỹ về cuộc đời, mà là sống với nó. Thiền Minh Sát không gì khác hơn là một phương pháp học để sống ra sao. 
-o000o-

Chánh niệm - tu thiền minh sát căn bản - Thiền sư Henepola Gunaratana

 CHÁNH NIỆM CƠ BẢN
Thiền sư: Henepola Gunaratana
Dịch Việt: Lương Thanh Bình

Chánh niệm - Chương 1, 2, 3: Hiểu rõ tu thiền là gì (Thiền sư: Henepola Gunaratana)

Chánh niệm - Chương 4 và 5: Thái độ - Quan điểm và Sự tu tập (Thiền sư: Henepola Gunaratana)

Chánh niệm - Chương 6: Làm gì đây với thân của bạn? -(Thiền sư: Henepola Gunaratana)

Chánh niệm - Chương 7 – Làm gì đây với Tâm của bạn? - (Thiền sư: Henepola Gunaratana)

Chánh niệm - Chương 8 : Cấu trúc của sự tu tập - (Thiền sư: Henepola Gunaratana)

Chánh niệm - Chương 9: Tổ chức sự Tu tập - (Thiền sư: Henepola Gunaratana)

Chánh niệm - Chương 10: Đối diện với khó khăn - (Thiền sư: Henepola Gunaratana)

Chánh niệm - Chương 11 và 12: Đối diện với Vọng tâm (Thiền sư: Henepola Gunaratana)

Chánh niệm - Chương 13: Chánh Niệm (Sati) (Thiền sư: Henepola Gunaratana)

Chánh niệm - Chương 14: Chánh niệm so với sự tập trung (Thiền sư: Henepola Gunaratana)

Chánh niệm - Chương 15: Tu thiền trong đời sống hàng ngày (Thiền sư: Henepola Gunaratana)

Chánh niệm - Chương 16: Những gì cho bạn (Thiền sư: Henepola Gunaratana)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét